Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM THÀNH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HSST

Ngày: 21/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Toán và ông Nguyễn Trọng Bộ.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Quang Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2025/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 11/3/2025, đối với bị cáo Nguyễn Duy K, sinh ngày 23/9/1992. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Khu F, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 10/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn L và bà Đặng Thị M. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án: Bản án số 93/2014/HSST ngày 08/7/2014, Nguyễn Duy K bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 16 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 08/02/2024, K chấp hành xong hình phạt tù của bản án. Tiền sự: Không. Về nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 48 ngày 01/02/2013, Nguyễn Duy K bị Công an huyện K (nay là thị xã K), tỉnh Hải Dương phạt tiền về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H từ ngày 28/12/2024 đến ngày 03/01/2025. Bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H từ ngày 03/01/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Phạm Huy C và Chử Hữu Tuấn A (Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 28/12/2024, Nguyễn Duy K điều khiển xe máy biển số 15B1-006.75 (do K mượn của anh Lê Văn C1, sinh năm 1979, trú tại khu A, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương) đi đến khu vực Trạm thu phí Q thuộc huyện A, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 túi ma túy đá với giá 3.000.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau đó, K cầm túi ma túy ở bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về Hải Dương. Trên đường về, K dừng xe lại lấy một ít ma túy vừa mua được cho vào miệng sử dụng (không xác định được địa điểm cụ thể K sử dụng ma túy). Hồi 20 giờ 45 phút cùng ngày, khi K đi đến khu phố G, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H phối hợp với Công an thị trấn P kiểm tra, thu giữ trong bàn tay trái K đang cầm 01 túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, K khai đó là ma túy do K mua về mục đích để sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 81/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định có khối lượng 5,667 gam, là ma túy loại Methamphetamine. H lại đối tượng giám định gồm 5,469 gam Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định trong niêm phong số 81/KL-KTHS.

Kết quả xét nghiệm ma túy trong cơ thể qua mẫu nước tiểu của Nguyễn Duy K ngày 29/12/2024, dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 27/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Duy K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận như quá trình điều tra, thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép 5,667 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân, bị cáo xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng, không oan và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm g, điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/12/2024.

Không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 5,469 gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định trong niêm phong số 81/KL-KTHS.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Duy K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về hành vi của bị cáo và các chứng cứ xác định tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo và người làm chứng tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu được và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 20 giờ 45 phút ngày 28/12/2024, tại khu phố G, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Duy K có hành vi cất giấu trái phép trong bàn tay trái 5,667gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H phối hợp với Công an thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

  3. Về định khung: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, căn cứ Kết luận giám định số 81/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định có khối lượng 5,667 gam, là ma túy loại Methamphetamine.

    Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

    Mục đích bị cáo Nguyễn Duy K tàng trữ ma túy để sử dụng.

    Bản thân bị cáo có một tiền án: Bản án số 93/2014/HSST ngày 08/7/2014, Nguyễn Duy K bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 16 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 08/02/2024, K chấp hành xong hình phạt tù của bản án. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý. Lần phạm tội này của bị cáo được xác định là “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự; bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

    Từ những nhận định trên, xác định: Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố và xét xử bị cáo Nguyễn Duy K về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm g và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm, bị pháp luật cấm nhưng vì thỏa mãn nhu cầu riêng bản thân nên vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự trị an tại địa phương, nguy cơ làm gia tăng các loại tội phạm khác.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

  4. Về quyết định hình phạt: Qua phân tích, đánh giá các chứng cứ, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thái độ ăn năn hối cải nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy trên địa bàn huyện K, tỉnh Hải Dương thời gian qua có chiều hướng gia tăng, gây bức xúc trong dư luận nhân dân; bản thân bị cáo đã bị kết án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong hình phạt tù, trở về với cộng đồng và gia đình nhưng không lấy làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nên cần thiết áp dụng hình phạt tù với mức án nghiêm, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa tội phạm tương tự.

    Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền sung vào ngân sách Nhà nước, xét việc bị cáo tàng trữ ma túy mục đích sử dụng cho bản thân, bị cáo là người không có việc làm, không có tài sản và đang bị giam giữ nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Xác định 5,469 gam ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật chứng cả vụ án, vật Nhà Nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ, là vật chứng của vụ án và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định trong một phong bì niêm phong số 81/KL-KTHS là vật không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.

    Xác định việc anh Lê Văn C1 cho bị cáo K mượn xe máy nhưng không biết K sử dụng xe vào việc phạm tội, ngày 15/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại anh Lê Văn C1 chiếc xe máy biển số 15B1-006.75, là phù hợp.

  6. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Duy K bị kết án nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.

* Trong vụ án này:

Đối với người bán chất ma tuý cho Nguyễn Duy K, tài liệu điều tra không xác định được là ai, ở đâu, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hải Dương không đủ căn cứ để xử lý.

Đối với anh Lê Văn C1, khi cho K mượn xe máy, anh C1 không biết K sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đặt ra việc xử lý, là phù hợp.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của K, do không xác định được địa điểm cụ thể K sử dụng ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

  1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 06 (Sáu) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/12/2024.

  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy 5,469 gam ma túy loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định trong một phong bì niêm phong số 81/KL-KTHS.

    (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương).

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Duy K phải chịu 200.000đồng án phí sơ thẩm hình sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Kim Thành;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan THAHS – Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, hồ sơ THA hình sự, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 12/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy K tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger