TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày 20 - 3 - 2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh và bà Doãn Thị Vệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QÐST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Kiều Duy L (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 02 tháng 12 năm 1991; nơi sinh: xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường T, quận H, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Kiều Văn P và bà Đặng Thị T; vợ là Dương Cẩm T1 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 05 năm 2024 đến nay, “có mặt.
- Phùng Thế L1 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 03 tháng 02 năm 1993; nơi sinh: xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Đảng, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Phùng Thế Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị P1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 05 năm 2024 đến nay, “có mặt”.
- Phùng Đức M (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 11 tháng 3 năm 1994; nơi sinh: phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Đảng, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Phùng Văn H và bà Nguyễn Thị V; vợ là Phùng Thị T2 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự:
Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 05 năm 2024 đến nay, “có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1995;
- Cư trú tại: Thôn Y, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt”.
- - Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1996;
- Cư trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt”.
- - Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 2006;
- Cư trú tại: Thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”
- - Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1988;
- Cư trú tại: Thôn X, xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt”.
- - Bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1957;
- Hộ khẩu thường trú: C H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội; Hiện trú tại: Nhà A, đường H, Khu V, “vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt”.
* Người chứng kiến:
- - Chị Lê Thị L3, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 17/5/2024, Kiều Duy L đang ở nhà tại yên P-Y thì nhận được điện thoại của anh Trần Trung K gọi điện rủ đến Flamingo Đ để uống rượu thì L đồng ý, sau đó L gọi và rủ Phùng Đức M đi uống rượu thì M đồng ý. Lúc này, L đi bộ ra đường và gọi 01 xe taxi đang đỗ gần đó đi đến đón M cùng đi đến Flamingo Đ. Khi đến nơi, L và M đi vào căn biệt thự F19 thì thấy có khoảng 07 người gồm Trần Trung K và T3 cùng một số người bạn của T3 (chỉ biết tên không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể T3 và bạn của T3) đang ngồi uống rượu thì L và M ngồi vào uống rượu cùng. Khoảng 22h cùng ngày 17/5/2024, khi đang uống rượu thì L nói với M là gọi “đồ” ý là gọi người mang ma túy đến để sử dụng thì M đồng ý. L nói với M là L gọi cho bạn mình là Phùng Thế L1 đi mua ma túy đến sử dụng. Sau đó, Kiều Duy L gọi điện thoại cho Phùng Thế L1 bảo: Em đến F chơi với anh, kiếm cho anh ít đồ (ma túy) thì Phùng Thế L1 đồng ý và bảo Duy L chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho Thế L1 thì Duy L đồng ý. Sau đó, Kiều Duy L sử dụng điện thoại di động (ĐTDĐ) nhãn hiệu Iphone 12 Promax của mình đăng nhập tài khoản ngân hàng thương mại cổ phần T5 (T6) có số 79358999999 (là tài khoản của Nguyễn Hữu T4 do Duy L mượn của T4 từ cuối tháng 4/2024 để giao dịch, do trước đó L bị mất điện thoại, giấy tờ tùy thân nên không làm lại được tài khoản ngân hàng) chuyển 8.500.000đ vào tài khoản Ngân hàng Q1 (M1) số 1661666668 của Phùng Thế L1 để
mua ma túy. Sau khi nhận được tiền, Thế L1 mang theo 01 thiết bị đèn nháy màu trắng, 01 loa xách tay màu bạc, 01 đèn lazer màu đen và 01 bật lửa màu đỏ của Phùng Thế L1 rồi đi taxi từ nhà đến khu vực bến xe P để tìm và mua được ma túy gồm: 01 túi nilon đựng ma túy Ke, 01 túi nilon ma túy Kẹo (có khoảng 7-8 viên, không nhớ chính xác) và 01 túi nilon ma túy dạng nước với tổng số tiền là 6.000.000₫ của một người đàn ông (không rõ danh tính, địa chỉ cụ thể) Phùng Thế L1 trả tiền mua ma túy bằng tiền mặt. Sau đó, L1 bắt taxi đến Flamingo Đ và gọi cho Kiều Duy L thì Duy L nhờ M ra đón Phùng Thế L1. Khi vào đến biệt thự F19, tất cả cùng nhau uống rượu. Quá trình uống rượu, Trần Trung K có gọi điện thoại cho Nguyễn Thị L2 đến uống rượu thì L2 đồng ý. Khi đi L2 có rủ thêm bạn là Nguyễn Thị B đi cùng. Sau đó, do mọi người uống nhiều mệt nên tất cả cùng nhau đi ngủ. Lúc này, K, Nguyễn Thị L2 và Nguyễn Thị B cùng những người khác đều không biết việc Kiều Duy L, Phùng Thế L1 và Phùng Đức M bàn bạc thống nhất việc mua ma túy đến cùng nhau sử dụng.
Sáng ngày 18/5/2024, Phùng Thế L1 có nói với Kiều Duy L tiền mua ma túy hết 6.000.000đ còn thừa 2.500.000đ, Kiều Duy L bảo Phùng Thế L1 cầm chi tiêu ăn uống, trả tiền xe taxi. Lúc này, anh K và một số người bạn của K có việc nên về trước. Còn Nguyễn Thị L2 và Nguyễn Thị B ở lại với Kiều L, Phùng L1 và M. Do biệt thự thuê đã hết giờ nên phải trả phòng thì Kiều Duy L liên hệ với chị Nguyễn Thị H1 (quản gia căn biệt thự B5) thuê biệt thự B5 của bà Hoàng Thị Đ mục đích để tổ chức sử dụng ma túy. Kiều Duy L đọc số điện thoại của chị H1 quản gia và bảo M liên hệ nhận phòng, M đồng ý và M biết mục đích thuê biệt thự này là để sử dụng ma túy. Sau đó, M đi trước liên hệ với chị Nguyễn Thị H1 để nhận phòng (thời gian thuê phòng từ 12 giờ ngày 18/5/2024 đến 12giờ ngày 19/5/2024). Lúc này, Kiều Duy L rủ L2 và B sang biệt thự B5 để sử dụng ma túy thì L2 đồng ý. M gọi điện rủ Nguyễn Thị N đến F chơi, N đồng ý. Nguyễn Thị L2 có gọi điện rủ Lê Thị L3 đến F chơi thì L3 đồng ý. Sau khi M đi nhận phòng, thì Duy L; Thế L1; Nguyễn Thị L2; Nguyễn Thị B cùng nhau đến biệt thự B5 để sử dụng ma túy. Mọi người cùng nhau lên tầng 2 còn Kiều Duy L ở tầng 1 lên sau. Một lúc sau có Lê Thị L3 (là bạn của Nguyễn Thị L2) và Nguyễn Thị N (là bạn của M) đến thì M ra cổng đón vào biệt thự B5.
Đến khoảng 14 giờ 30 phút, Tại tầng 2 căn biệt thực B5, Phùng Thế L1 bật nhạc, bật đèn nháy, Phùng Thế L1 lấy toàn bộ số ma túy mua được gồm: 01 túi ma túy ke và 01 túi ma túy kẹo, 01 túi nước vui để ra bàn bảo mọi người chơi đi (tức là bảo mọi người sử dụng ma túy). Phùng Thế L1 sử dụng 01 viên ma túy K1 và đưa cho M một viên ma túy kẹo, sau đó L1 bẻ một nửa viên ma túy kẹo đưa cho B để sử dụng. M bẻ đôi (1/2) viên ma túy kẹo sử dụng còn lại đưa cho N sử dụng, số ma túy còn lại thì L1 để trên bàn với mục đích cho những người còn lại ai dùng thì dùng. Khi Kiều Duy L từ tầng 1 lên đến nơi thì thấy có nhạc, đèn nháy và có nhiều viên nén màu xám trên bàn là ma túy Kẹo thì Kiều Duy L lấy một viên rồi bẻ ra sử dụng
nửa viên ma túy Kẹo, ½ viên còn lại để lại trên bàn. Một lúc sau, M lấy nửa viên ma túy kẹo còn lại trên bàn đưa cho Nguyễn Thị L2 sử dụng.
Sau đó, Thế L1 lấy 01 tờ tiền 20.000đ trong túi của Duy L để cuốn thành ống hút (tẩu) và lấy tờ 10 đô la Mỹ của mình ra và đổ ma túy K2 vào tờ tiền này đồng thời lấy bật lửa hơ phía dưới, dùng tẩu tạo thành nhiều mô khác nhau rồi dùng tẩu hít một mô ma túy ke và bảo mọi người sử dụng ma túy Ke. Thế Long để tẩu trên tờ tiền 10 đô la Mỹ có chứa ma túy K2 đưa cho M rồi mạnh cũng hít ma túy K2, M đưa N, Nguyễn Thị L2, Lê Thị L3 ma túy Ke nhưng Lê Thị L3 không sử dụng, chỉ có N và Nguyễn Thị L2 sử dụng ma túy Ke, sau đó để trên bàn. Một lúc sau Phùng Thế L1 có đưa ma túy K2 cho B sử dụng, B sử dụng xong thì để trên mặt bàn cho người khác sử dụng. Sau đó cả nhóm sử dụng ma túy K2 và K1 (riêng ma túy nước vui thì chưa sử dụng) và nghe nhạc.
Đến khoảng 15 giờ 10 phút ngày 18/5/2023 thì bị tổ công tác Công an thành phố P phối hợp với phòng Cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội Công an tỉnh V bắt quả tang, kiểm tra phát hiện thu giữ vật chứng liên quan đến vụ án, đưa các đối tượng về trụ sở công an thành phố P làm việc theo quy định.
* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
- Thu giữ trên mặt bàn tủ cạnh đầu giường:
- + Chất bột màu trắng bên trong tờ tiền 10 đô la Mỹ, được thu gom, niêm phong ký hiệu A1;
- + 01 tờ tiền mệnh giá 10 đô la Mỹ có bám dính chất màu trắng (sau khi đã được thu gom chất bột màu trắng niêm phong kí hiệu A1); 01 ống hút được cuốn tròn bằng tờ tiền polime mệnh giá 20.000đ, bên ngoài được bọc bằng vỏ đầu lọc thuốc lá, toàn bộ tang vật trên được niêm phong theo quy định kí hiệu A2; 01 bật lửa màu đỏ.
- Thu giữ trong túi quần bên trái của Phùng Thế L1 gồm:
- + 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (L1 khai nhận đó là ma túy tổng hợp, được niêm phong ký hiệu A3;
- + 01 túi nilon màu đỏ còn nguyên vẹn, có ghi chữ F, in hình con ngựa và chữ ST, được niêm phong ký hiệu A4;
- + 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 04 viên nén màu xám, được niêm phong ký hiệu A5;
- Thu giữ tại khu vực gần kệ ti vi trong phòng có: 01 thiết bị đèn nháy màu trắng; 01 loa xách tay màu bạc, nhãn hiệu ghi trên loa đã bị mờ; 01 đèn lazer màu đen loại LASER SHOW MP -787.
* Ngoài ra còn thu giữ điện thoại di động của các đối tượng, cụ thể:
- + Thu giữ của Kiều Duy L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, đã qua sử dụng.
- + Thu giữ của Phùng Thế L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Inphone 13 Promax màu vàng, đã qua sử dụng;
- + Thu giữ của Phùng Đức M 01 điện thoại di động nhãn hiệu 12 Promax màu xám;
- + Thu giữ của Nguyễn Thị L2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xám; thu giữ của Lê Thị L3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xám; thu giữ của Nguyễn Thị B 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím bạc; thu giữ của Nguyễn Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu bạc.
CQĐT đã lập biên bản, thu giữ và niêm phong mẫu nước tiểu của Kiều Duy L, Phùng Thế L1, Phùng Đức M, Nguyễn Thị N, Lê Thị L3, Nguyễn Thị L2 và Nguyễn Thị B, cho vào các chai nhựa đậy nắp kín, niêm phong theo đúng quy định để phục vụ công tác giám định.
Giám định ma túy và các giám định khác:
- Tại Bản kết luận giám định số 1449, 1451, 1453, 1456, 1457,1458 ngày 25/5/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh V (Phòng KTHS), kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Kiều Duy L, Phùng Đức M, Nguyễn Thị B, Phùng Thế L1, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị L2.
Mẫu đã sử dụng hết trong quá trình giám định. H2 lại đối tượng giám định: Không.
- Tại Bản kết luận giám định số 1454 ngày 25/5/2024 của Phòng KTHS, kết luận: “Không phát hiện thành phần chất ma tuý trong mẫu nước tiểu thu của Lê Thị L3..."
- Tại bản Kết luận giám định số 1413 ngày 22/5/2024 của Phòng KTHS, kết luận:
- Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1172 g loại Ketamine.
- Chất bột màu trắng bám dính trên tờ tiền đô la có trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất bám dính do mẫu tồn tại ở dạng vết.
- Chất bột màu trắng bám dính trong ống hút làm bằng tờ dạng tiền Việt Nam đồng có trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất bám dính do mẫu tồn tại ở dạng vết.
- Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,3542g ... loại Ketamine.
- 04 viên nén màu xám của mẫu ký hiệu A5 gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 1,4510g ... loại MDMA.
- Chất bột màu vàng của mẫu ký hiệu A4 có khối lượng 6,8521g. Từ chối giám định đối với yêu cầu “Mẫu gửi giám định ký hiệu A4 có phải chất ma túy, tiền chất sử dụng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy không? Loại ma túy, tiền chất gì?” do Phòng K3 - Công an tỉnh V không đủ năng lực và điều kiện để giám định. (Mẫu vật được hoàn trả kèm theo Thông báo từ chối giám định số: 63/TCGĐ ngày 20/5/2024 của Phòng K3 - Công an tỉnh V)”.
Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 = 0,0909g; A2 gồm: 01 ống hút+ 01 tờ tiền đô la Mỹ; A3 = 3,0501g;
A5 = 1,3945g mẫu và toàn bộ bao gói của mẫu kí hiệu A1, A2, A3,A5 được niêm phong chung trong một bao gói giấy “ MẪU TRẢ 1333”.
- Tại Bản kết luận giám định số 4418 ngày 21/6/2024 của V1 Bộ C, kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, MDMA và Nimetazepam trong mẫu chất bột màu vàng (ký hiệu A4) gửi giám định; hàm lượng Methamphetamine, MDMA và Nimetazepam trong mẫu lần lượt là: 0,9%; 13,3%; 1,2%”.
Mẫu vật sau giám định A4= 6,420g mẫu chất bột màu vàng trong 01 túi nilon và vỏ bao gói mẫu hoàn lại trong niêm phong số 4418/KL-KTHS theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định.
Xác định khối lượng của các chất ma túy trong mẫu A4 như sau: Methamphetamine = 6,8521g x 0,9% = 0,0616g; MDMA = 6,8521g x 13,3% = 0,9113g; Nimetazepam = 6,8521g x 1,2% = 0,0822g.
* Như vậy, khối lượng các chất ma túy còn lại chưa sử dụng là:
Ketamine = 0,1172g (A1) + 3,3542g (A3) = 3,4714g;
MDMA = 1,4510g (A5) + 0,9113g (A4) = 2,3632g;
Methamphetamine = 0,0616g (A4);
Nimetazepam = 0,0822g (A4);
* Tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng của các chất ma túy (A4) là:
Ketamine = (3,4714 x 100): 20 = 17,357%; MDMA = (2,3632 x 100): 5 = 47,264%; Methamphetamine = (0,0616 x 100): 5 = 1,232 %; Nimetazepam = (0,0822 x 100): 20 = 0,411 %. Tổng số = 17,357% + 47,264% + 1,232 % + 0,411 % = 66,264%. Không đủ khối lượng khoản 2 Điều 249 BLHS.
Tại Cáo trạng số 08/CT-VKSPY ngày 13 tháng 01 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố các bị cáo Kiều Duy L, Phùng Thế L1 và Phùng Đức M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Kiều Duy L, Phùng Thế L1 và Phùng Đức M khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Kiều Duy L từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm tù; xử phạt bị cáo Phùng Thế L1 từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Phùng Đức M từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù,thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam các bị cáo. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo qui định của pháp luật.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng:
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa xong trong giai đoạn điều tra đã có lời khai, phù hợp với lời khai của các bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên của Cơ quan điều tra – Công an thành phố P, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn, trưng cầu giám định, lấy lời khai của bị can và những người tham gia tố tụng, kết luận điều tra, ban hành cáo trạng. Thời hạn điều tra, truy tố đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, các bị cáo không ai có khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Vì vậy, hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận như sau: Khoảng 14h ngày 18/5/2024, tại phòng ngủ trên tầng 2 biệt thự B5 thuộc khu D thuộc xã N, P, Kiều Duy L có hành vi rủ và được sự đồng ý của Phùng Thế L1 và Phùng Đức M cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và cùng tổ chức với 03 người khác gồm Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị B và Nguyễn Thị N (N lúc đó chưa đủ 18 tuổi). Đến khoảng 15 giờ 10 phút ngày 18/5/2023 thì bị tổ công tác Công an thành phố P phối hợp với phòng Cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội Công an tỉnh V bắt quả tang.
[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác. Phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Vật chứng thu giữ của vụ án, kết luận giám định khối lượng MDMA, Ketamine của Phòng K3 - Công an tỉnh V,...Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố các bị cáo Kiều Duy L, Phùng Thế L1 và Phùng Đức M về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai.
Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào ...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- a) ....................................................;
- b) Đối với 02 người trở lên;
c) Đối với người đủ từ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi ...”
[4] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đều trong độ tuổi lao động, không chịu tu dưỡng rèn luyện, ăn chơi đua đòi ngang nhiên tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo Kiều Duy L, Phùng Thế L1 và Phùng Đức M trước khi phạm tội đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó các bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; là căn cứ để Hội đồng xét xử cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo;
Trong vụ án này, Kiều Duy L là người khởi xướng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; rủ các đối tượng sử dụng ma túy; chuyển tiền để mua ma túy và tiền thuê biệt thự để sử dụng ma túy. Phùng Thế L1 là đồng phạm giúp sức tích cực, trực tiếp chuẩn bị phương tiện, dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma tuý; là người mua ma tuý và cuốn ống hút để mọi người sử dụng ma tuý. Bị cáo Phùng Đức M đồng phạm tích cực là người trực tiếp liên hệ nhận biệt thự để làm nơi sử dụng ma túy và rủ người chưa đủ 18 tuổi đến để sử dụng ma túy; đưa ½ viên ma túy MDMA cho N và Nguyễn Thị L2 sử dụng, cầm tờ tiền chứa ma túy mời N và Nguyễn Thị L2 sử dụng. Xét thấy các bị cáo đều là những thanh niên trẻ đang trong tuổi lao động nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu mà lại rủ nhau tụ tập ăn chơi đua đòi ngang nhiên tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy (05 người) trong đó có cả người chưa đủ 18 tuổi. Vì vậy cần thiết phải bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, giúp các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với người nam giới lạ mặt đã bán ma túy cho bị cáo Phùng Thế L1 ngày 17/5/2024 tại khu vực bến xe P thuộc phường H, P, Vĩnh Phúc, CQĐT đã rà soát, xác minh tại địa bàn phường H, P, Vĩnh Phúc nhưng đến nay chưa xác định được nhân thân lai lịch, tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Hữu T4 là người cho Kiều Duy L mượn tài khoản ngân hàng. Quá trình điều tra xác định, anh T4 không biết không liên quan đến hành vi phạm tội của Kiều Duy L nên cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với Trần Trung K là người rủ Kiều Duy L đến biệt thự F19, F1 chơi. Quá trình điều tra xác định, ngày 17/5/2024 anh K có rủ L đến mục đích để uống rượu tại biệt thự F19, không nghe và không biết việc Kiều Duy L hỏi việc tổ chức sử dụng ma túy, không biết việc Kiều L bàn bạc tổ chức sử dụng ma túy ngày 18/5/2024 nên không phạm tội không tố giác tội phạm, cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Thị L2, Nguyễn Thị B và Nguyễn Thị N, là người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại căn biệt thự B5 nhưng hành vi không cấu thành tội phạm. Ngày 28/11/2024, C đã Quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định.
Đối với Lê Thị L3, không sử dụng ma túy, không liên quan gì đến vụ án, không đề cập việc xử lý.
Đối với Nguyễn Thị H1 là quản gia căn biệt B5 Flamingo Đại L4, là người làm thuê cho Hoàng Thị Đ là chủ căn biệt thự, không biết các đối tượng thuê biệt thự để sử dụng ma túy, nên không xem xét xử lý là phù hợp.
Đối với Hoàng Thị Đ là chủ căn biệt thự B5, đã để các đối tượng nêu trên sử dụng chất ma túy trong khu vực do mình quản lý, CQĐT đã có văn bản đề nghị Chủ tịch UBND thành phố P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Thị Đ theo quy định. Hoàng Thị Đ đã nộp phạt đầy đủ.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo Kiều Duy L, Phùng Thế L1 và Phùng Đức M đều không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định do vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Cần tịch thu tiêu hủy gồm: Mẫu vật còn lại sau giám định: A1 = 0,0902g gam; A3 = 3,0501g; A5 = 1,3945g và toàn bộ bao gói niêm phong trong cùng một bao giấy “MẪU TRẢ VỤ 1333”; A4 = 6,420g mẫu chất bột màu vàng trong 01 túi nilon vỏ bao gói mẫu hoàn lại trong niêm phong số 4418/KL-KTHS theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định; 01 bật lửa gas màu đỏ.
- Đối với 01 tẩu hút được cuốn thành ống bằng tờ tiền polyme loại 20.000đ + 01 tờ tiền mệnh giá 10 đô la Mỹ hoàn lại trong cùng bao gói niêm phong trong cùng một bao giấy “MẪU TRẢ VỤ 1333”, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với những tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh của Kiều Duy L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Inphone 13 Promax màu vàng của Phùng Thế L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu 12 Promax màu xám của Phùng Đức M, điện thoại đã sử dụng để liên lạc mua và chuyển tiền mua ma túy, M sử dụng điện thoại để liên hệ nhận biệt thự để sử dụng ma túy nên cần tịch thu, bán sung quỹ Nhà nước.
- 01 thiết bị đèn nháy màu trắng; 01 loa xách tay màu bạc, nhãn hiệu ghi trên loa đã bị mờ; 01 đèn lazer màu đen loại LASER SHOW MP -787 thu giữ của bị cáo Phùng Thế L1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xám của Nguyễn Thị L2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xám của Lê Thị L3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím bạc của Nguyễn Thị B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu bạc của Nguyễn Thị N, đều là tài sản hợp pháp, không liên quan đến hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, CQĐT đã trả lại cho các chủ sở hữu Nguyễn Thị L2, Lê Thị L3, Nguyễn Thị B.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu bạc của Nguyễn Thị N cần trả lại cho Nguyễn Thị N là có căn cứ.
- Đối với số ma túy còn lại đã thu giữ, quá trình điều tra xác định, các bị cáo và các đối tượng mới bắt đầu sử dụng thì bị phát hiện, mục đích để sử dụng hết không có mục đích cất giấu sử dụng vào lúc khác, việc Phùng Thế L1 để ma túy trong túi quần là do khi Công an đến kiểm tra sợ bị phát hiện nên L1 đã lấy ma túy trên bàn ném qua cửa sổ nhưng do cửa sổ đóng nên L1 cất ma túy vào túi quần đang mặc trên người (gồm 3,4714g ma túy Ketamine, 2,3632g MDMA, 0,0616g Methamphetamine; 0.0822g N), nên hành vi của L1 và các bị cáo không cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
[7] Về án phí: Các bị cáo Kiều Duy L, Phùng Thế L1 và Phùng Đức M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tại phiên tòa về tội danh cũng như mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Kiều Duy L, Phùng Thế L1 và Phùng Đức M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm b, c Khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Kiều Duy L 09 (Chín) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 19 tháng 5 năm 2024.
Xử phạt: Bị cáo Phùng Thế L1 09 (Chín) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 19 tháng 5 năm 2024.
Xử phạt: Bị cáo Phùng Đức M 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 19 tháng 5 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy gồm: Mẫu vật còn lại sau giám định: A1 = 0,0902g gam; A3 = 3,0501g; A5 = 1,3945g và toàn bộ bao gói niêm phong trong cùng một bao giấy “MẪU TRẢ VỤ 1333”; A4 = 6,420g mẫu chất bột màu vàng trong 01 túi nilon vỏ bao gói mẫu hoàn lại trong niêm phong số 4418/KL-KTHS theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định; 01 bật lửa gas màu đỏ.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 tờ tiền polyme loại 20.000đ + 01 tờ tiền mệnh giá 10 đô la Mỹ (các bị cáo sử dụng để cuốn thành tẩu hút).
Tịch thu, bán sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh của Kiều Duy L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Inphone 13 Promax màu vàng của Phùng Thế L1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu 12 Promax màu xám của Phùng Đức M.
Trả lại cho bị cáo Phùng Thế L1 01 thiết bị đèn nháy màu trắng; 01 loa xách tay màu bạc, nhãn hiệu ghi trên loa đã bị mờ; 01 đèn lazer màu đen loại LASER SHOW MP -787 và trả lại Nguyễn Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu bạc.
Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận tài sản, vật chứng số 26 lập ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Kiều Duy L, Phùng Thế L1 và Phùng Đức M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
