Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18-3-2025

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hà Thị Nga
  2. Bà Phạm Thị Thanh Hiên

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường, Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nự - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 220/2024/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 197/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Duy T; nơi cư trú: Số H đường M, phường T (phường D cũ), quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Trần Bé N; đăng ký hộ khẩu thường trú: H, Cái nước, Cà Mau; nơi cư trú: Số D đường M, phường T (phường D cũ), quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn; biên bản ghi lời khai; biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa, nguyên đơn (ông Lê Duy T) trình bày: Tôi và bà Trần Bé N có quen biết nhau vào khoảng năm 2010 – 2011, do thời gian này vợ tôi ốm nên tôi thường xuyên lai ra quán bà N để gội đầu. Đến nay 2012 vợ tôi mất, sau khi vợ tôi mất 1 thời gian ngắn thì tôi có quan hệ với bà N rồi đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D nay là phường T, quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 12/02/2014. Việc tôi và bà N kết hôn là quyết định của hai bên, gia đình hai bên không biết (chúng tôi không nói với gia đình hai bên) và chúng tôi cũng không tổ chức hỏi cưới theo phong tục.

Sau khi chúng tôi tự ý quyết định đi đăng ký kết hôn thì về cung sống tại số D Miếu H Xã đến gần cuối năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bất đồng với nhau trong cuộc sống, cách sống, hai bên không có niềm tin với nhau và do chênh lệch tuổi giữa hai bên (tôi hơn bà N 33 tuổi). Dẫn đến giữa tôi và bà N thường xuyên xẩy ra to tiếng cãi nhau, mâu thuẫn giữa hai bên ngày càng trầm trọng, từ khi xẩy ra mâu thuẫn hai bên đã sống ly thân nhau mỗi người một nơi không ai quan tâm đến ai. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn bà N.

Về con chung: Tôi và bà N không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung hay công nợ: Tôi và bà N không có tài sản chung và không có công nợ, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn (bà Trần Bé N) trong quá giải quyết mặc dù đã được nhận các văn bản của Tòa án giao đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng đều vắng mặt, không có lý do.

Tại biên bản ghi ý kiến của đại diện gia đình ông T cho biết: Việc ông T và bà N có đăng ký kết hôn gia đình không biết, sau khi vợ ông T chết khoảng 02 năm đến đầu năm 2014 gia đình thấy ông T tự ý dọn về nhà bà N ở được khoảng mấy tháng thì ông T lại quay về gia đình ở. Qua tìm hiểu gia đình mới biết là bà N đã chủ động có quan hệ bạn bè với ông T, bà N và ông T cũng có ý định về ở tại số H đường M nhưng mọi người trong gia đình không ai đồng ý, ngoài ra ông T không có kinh tế nên giữa hai bên đến nay không còn quan hệ gì với nhau. Trong thời gian quan hệ thì giữa ông T và bà N không có con chung và không có tài sản chung. Nay ông T có đơn xin ly hôn bà N, đại diện gia đình đề nghị Toà án giải quyết để ông T được ly hôn bà N và theo quy định pháp luật.

Đại diện chính quyền địa phương nơi bà N cư trú cung cấp: Việc ông T và bà N chung sống với nhau và có mâu thuẫn gì thì địa phương không nhận được thông tin gì từ phía gia đình, qua nghe phản ánh là do chênh lệch tuổi giữa hai bên và mâu thuẫn khác phát sinh từ vấn đề tế nhị giữa hai bên. Ông T và bà N đã không ở cùng nhau từ năm 2014 đến nay mỗi người một nơi. Nay ông T có đơn xin ly hôn bà N, đại diện địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo yêu cầu của ông T và theo quy định pháp luật; về con chung và tài sản chung ông T và bà N không có nên địa phương không có ý kiến, đề nghị gì.

Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ kiện đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc giao các văn bản cho các bên. Về phía nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ theo quy định tố tụng dân sự khi tham gia tố tụng; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ theo quy định tố tụng dân sự khi tham gia tố tụng.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35;điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Lê Duy T được ly hôn bà Trần Bé N. Về con chung: Ông T và bà N không có con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung, công nợ: Ông T và bà N không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: Ông T được miễn án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  • - Về tố tụng:
  • [1] Ông Lê Duy T có đơn khởi kiện xin ly hôn bà Trần Bé N, xét thấy cả hai bên đều cư trú trên địa bàn quận L nên căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
  • [2] Tại phiên tòa bà N vắng mặt lần thứ hai không có lý do (ngay cả trong quá trình Toà án thụ lý, giải quyết bà N đều vắng mặt) mặc dù đã nhận được các văn bản Tòa án giao theo đúng quy định pháp luật; qua đó cho thấy bà N đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình trước pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà N theo quy định pháp luật.
  • - Về nội dung:
  • [3] Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa ông Lê Duy T và bà Trần Bé N tuân thủ đúng quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Tại biên bản ghi lời khai, lời trình bày của nguyên đơn và ý kiến của đại diện gia đình nguyên đơn (gia đình bà N không đến Toà án làm việc mặc dù đã nhận được giấy báo của Toà án) thể hiện quá trình chung sống ông T và bà N phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2014, nguyên nhân do hai bên bất đồng cách sống, quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không niềm tin với nhau, mặt khác do sự chênh lệch về tuổi quá nhiều (trên 30 tuổi). Mâu thuẫn hai bên ngày trầm trọng và từ năm 2014 hai bên sống ly thân mỗi người một nơi và không còn quan hệ gì với nhau về tình cảm, kinh tế. Qua đó cho thấy mâu thuẫn giữa hai bên đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; việc ông T xin ly hôn với bà N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.
  • [4] Về con chung: Ông T và bà N không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • [5] Về tài sản chung, công nợ chung: Ông T trình bày hai bên không có tài sản chung hay công nợ chung, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xét giải quyết.
  • [6] Về án phí: Do ông T là người cao tuổi; đối chiếu theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, ông T được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Duy T được ly hôn bà Trần Bé N.
  2. Về án phí: Ông Lê Duy T được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Ông T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - THADS quận Lê Chân;
  • - Các đương sự;
  • - UBND P. Trần Nguyên Hãn,
  • Q. Lê Chân, Tp. Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Duy T- Trần Bé N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger