|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HS-ST
Ngày 17-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Ca và bà Vũ Thị Linh
Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Đào – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025 và ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 08/TB-TA ngày 11/02/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/HSST-QĐ ngày 19/02/2025, đối với bị cáo:
-
Lê Văn L
, sinh năm 08/11/1994 tại A, Hải Phòng;Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Lê Văn T và bà Lưu Thị T1; vợ, con: Không; tiền sự: Không.
Tiền án:
Bản án hình sự sơ thẩm số 34 ngày 16/5/2019 của TAND huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt Lê Văn L 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. L đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/02/2021, chấp hành xong án phí hình sự ngày 16/5/2019.
Bản án hình sự sơ thẩm số 33 ngày 21/5/2019 của TAND huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt Lê Văn L 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. L đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/02/2021, chấp hành xong án phí hình sự và phần truy thu sung quỹ Nhà nước ngày 18/11/2019.
Bản án hình sự sơ thẩm số 11 ngày 16/3/2022 của TAND quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt Lê Văn L 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. L đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2023, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 16/3/2022.
Bị tạm giữ ngày 27/8/2024, chuyển tạm giam ngày 30/8/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
-
Nguyễn Văn L1
, sinh năm 11/4/1995 tại K, Hải Dương;Nơi cư trú: Số F đường Q, khu A, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V và bà Trịnh Thị N; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Bản án hình sự sơ thẩm số 75 ngày 30/8/2018 của TAND huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Văn L1 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. L1 đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/7/2019, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 08/11/2018.
Ngày 14/01/2025, Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đã tuyên phạt Nguyễn Văn L1 07 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 05 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt buộc L1 chấp hành là 13 năm tù (Bản án đã có hiệu lực pháp luật)
Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác. Có mặt
-
Nguyễn Duy N1
, sinh năm 10/11/1995 tại K, Hải Dương;Nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N2 và bà Nguyễn Thị L2; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Bản án hình sự sơ thẩm số 21 ngày 28/6/2012 của TAND huyện Kim Thành xử phạt Nguyễn Duy N1 04 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”, N1 chấp hành xong án phí hình sự ngày 02/11/2012.
Bản án hình sự sơ thẩm số 29 ngày 08/7/2014 của TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Duy N1 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp với hình phạt của bản án số 21 ngày 28/6/2012 của TAND huyện Kim Thành, N1 phải chấp hành 33 tháng, 24 ngày tù. N1 đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2016, chấp hành xong án phí ngày 24/11/2014.
Bản án số 79 ngày 08/11/2019 của TAND thị xã Kinh Môn xử phạt Nguyễn Duy N1 33 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ninh chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/12/2021, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 14/01/2019.
Bị tạm giam ngày 27/9/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Văn V1, sinh năm 1996 và chị Nguyễn Thị Phương T2, sinh năm 1998;
Đều trú tại: Số A đường T, KDC N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Anh V2, chị T2 đều vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Đỗ Văn S (vắng mặt), Nguyễn Vũ Bảo T3, Vũ Thị Hồng T4 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 26/7/2024, Lê Văn L (đã tái phạm, chưa được xóa án tích) sử dụng điện thoại Nokia, màu đen lắp sim số 0869321558 gọi đến số điện thoại 0382.880.xxx của Nguyễn Văn L1 để rủ đi trộm cắp tài sản. L1 đồng ý và điều khiển xe máy Exciter 150 màu xanh, không lắp biển kiểm soát của L1 đi đón L sang thành phố C, tỉnh Hải Dương tìm nhà nào có tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 02 giờ 10 phút ngày 27/7/2024, L1, L phát hiện nhà chị Nguyễn Thị Phương T2, sinh năm 1998 trú tại khu dân cư N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương đã đi ngủ, khóa cửa nhưng để chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu sơn xanh đen, biển kiểm soát 34C1-481.08, trên xe có 01 chiếc ghế ngồi xe máy trẻ em, được làm bằng inox, kích thước (65x38x36)cm, phía trên được bọc đệm da màu đen trắng trong sân trước cửa nhà. Thấy vậy, L1 đứng ngoài, L đi vào thì thấy cổng có khóa nhưng bị lỗi nên vẫn mở được thì đi ra nói với L1 “Cổng nhà này bị lỗi có thể mở được, bạn ở ngoài nhé”. L1 nghe thì hiểu L bảo mình đứng ngoài cảnh giới để L trộm cắp chiếc xe máy. Lợi nhấc các chốt phía bên dưới cổng rồi đi vào chỗ để xe mô tô thì thấy xe không khóa cổ, không có chìa khóa nên dắt chiếc xe ra chỗ L1, vứt ghế ngồi trẻ em ở bãi cỏ ven đường. Sau đó, L1 điều khiển chiếc xe trộm cắp được, L điều khiển xe Exciter dùng chân phải đẩy vào phần để chân phía sau xe của L1 đi đến đê dưới gầm cầu B thì tháo biển số xe, L1 nhặt thanh kim loại ven đường cà xước phần số khung của xe V3 rồi ném thanh kim loại và biển số xe xuống sông rồi đi về huyện K. Khoảng 04 giờ cùng ngày, L bảo L1 gọi điện thoại cho Nguyễn Duy N1 để bán xe nên L1 sử dụng tài khoản Zalo “LI” gọi tới tài khoản Zalo “Cuốn theo chiều gió” của N1 nói “có con xe Vision đời mới, mới nhảy được”, N1 nghe hiểu L1 trộm cắp được chiếc xe Vision muốn bán nên đồng ý mua xe với giá 6.000.000 đồng (L và L1 mỗi người hưởng 3.000.000 đồng) và bảo L1 đem xe để ở sân nhà anh Đỗ Thanh T5, sinh năm 1969, trú tại thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (anh T5 đã đi ngủ nên không biết). Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, N1 đến nhà anh T5 lấy xe (anh T5 không biết) rồi mang đến đến quán sửa xe (không nhớ địa chỉ cụ thể) để thay khóa chiếc xe máy sau đó sử dụng xe để đi lại. Khoảng 12 giờ ngày 27/7/2024, N1 trả L số tiền 2.600.000 đồng (do L nợ N1 400.000 đồng), N1 sử dụng khoản ngân hàng V4 số 1026143560 chuyển đến tài khoản ngân hàng M số 0962328468 trả L1 số tiền 800.000 đồng (do L1 nợ N1 2.200.000 đồng). L và L1 chi tiêu cá nhân hết số tiền trên. Ngày 26/8/2024, chị T2 có đơn và giao nộp: 01 chiếc ghế trẻ em (L1, L vứt tại bãi cỏ gần nhà chị T2); ngày 27/8/2024, L đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố C tự thú về hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên và tự nguyện giao nộp 01 điện thoại N3, lắp sim Viettel số 0869.321.xxx; ngày 26/9/2024, N1 tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu sơn xanh đen, không lắp biển kiểm soát, 01 điện thoại Iphone XS Max, màu vàng đồng (không lắp sim).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 43 ngày 28/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố C, tỉnh Hải Dương xác định: 01 Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại: Vision, màu sơn: Xanh đen, BKS: 34C1-481.08, số máy: JK03E5308528, số khung: RLHJK0310MZ102273 ngày 27/7/2024 có giá trị là: 20.000.000 đồng. 01 chiếc ghế ngồi xe máy trẻ em, được làm bằng inox, có kích thước (65x48x36), phía trên là khu vực ngồi được bọc đệm da màu đen trắng, có dây đai an toàn, phía dưới là chân ghế được làm bằng inox màu trắng có giá trị là: 100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày 27/7/2024 là 20.100.000 đồng.
Việc thu giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã nhập kho vật chứng: 01 điện thoại Iphone XS Max, màu vàng đồng (không lắp sim) của N1, 01 điện thoại Nokia, lắp sim Viettel số 0869.321.xxx của L để xử lý theo quy định của pháp luật.
Biển số xe 34C1-481.08, L, L1 vứt xuống sông, Cơ quan CSĐT Công an thành phố C đã truy tìm nhưng không thấy. Chiếc xe máy Exciter 150 màu xanh, xe không lắp biển kiểm soát; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu hồng lắp sim số 0382.880.221 của L1 đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện K thu giữ. Ngày 13/01/2025, Toà án nhân dân huyện Kim Thành ban hành Quyết định chuyển vật chứng số 01/2025/HSST-QĐ về việc chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị T2 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu sơn xanh đen, biển kiểm soát 34C1-481.08 và chiếc ghế ngồi trẻ em làm bằng inox.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Phương T2 đã nhận lại chiếc xe máy và chiếc ghế trẻ em, không có đề nghị gì về trách nhiệm dân sự. Nguyễn Duy N1 không yêu cầu bị can L, L1 phải trả lại số tiền 6.000.000 đồng đã mua xe máy.
Tại bản Cáo trạng số 123/CT-VKSCL ngày 07/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Văn L1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Duy N1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà ngày 11/3/2025:
Toà án có triệu tập người làm chứng là ông Đỗ Văn S nhưng ông S vắng mặt, không có lý do. Ông S trình bày: Ông S và N1 có quen biết ngoài xã hội. Khoảng tháng 7,8,9/2024, N1 và hai người khác (ông không quen biết) đến nhà ông S thì N1 có nói gửi lại xe máy vision tại nhà ông, không nói bao giờ lấy. Sau đó, N1 và Công an Chí L3 đến làm việc thì N1 có nói lấy lại chiếc xe máy thì ông S đồng ý. Khi N1 gửi xe tại nhà ông thì ông không biết xe máy của ai, có giấy tờ hay không, N1 không nói gì. Ông không nhận cầm cố, hay thế chấp chiếc xe máy này với giá 6.500.000đ, ông cũng chưa khi nào chuyển vào tài khoản của N1 số tiền 6.500.000₫ vào ngày hôm đó. Thỉnh thoảng ông có cho N1 vay tiền để chi tiêu, sinh hoạt.
Bị cáo L, L1 thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng, luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo L, L1, N1 đều thay đổi lời khai và không đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đối với N1.
Bị cáo L, L1, N1 khai: Sau khi trộm cắp được xe máy, các bị cáo L, L1 đẩy xe về xã K, huyện K và gọi cho L3 bảo với N1 là vợ của L có xe máy muốn bán và hẹn gặp nhau thì N1 đồng ý. Khoảng 04 giờ ngày 27/7/2024, các bị cáo gặp nhau nhưng do xe máy không có chìa khoá nên N1 bảo L, L1 mang xe về, còn L, L1 bảo nhau để L1 mang xe gửi tại nhà anh Đỗ Thanh T5, sinh năm 1969 trú tại thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Đến khoảng trưa cùng ngày, L, L1, N1 gặp nhau, L1 nói bạn xem giải quyết xe hôm qua đi hoặc bán hộ, xe của vợ L, L nói bán với giá 6.000.000đ thì N1 có hỏi chìa khoá đâu thì L nói vợ L cầm chìa khoá về Tuyên Quang. N1 đồng ý và chuyển tiền cho L, L1 như nội dung Cáo trạng đã nêu. L1 ngồi trên xe, còn N1 đẩy xe đến chỗ sửa khoá ven đường. Đến khoảng 12 giờ, N1 đến chỗ sửa xe, trả tiền thay khoá hết 110.000đ, sau đó đi đổ xăng mới biết là xe không có số khung, số máy, nên N1 gọi cho L để trả lại xe máy thì L đồng ý. Ngày hôm sau, L, L1 có mang xe máy đến nhà ông Đỗ Văn S thì gặp N1 ở tại nhà ông S, để cầm cố được 6.500.000đ (ông S chuyển tiền vào số tài khoản MB: 8286699999, hoặc tài khoản ngân hàng V4: 1026143560, đều đứng tên chủ tài khoản là N1, do thời gian đã lâu nên N1 không nhớ là ông S đã chuyển vào số tài khoản nào, thời gian chuyển khoản từ ngày 28-29/7/2024), N1 trả cho L, L1 500.000đ tiền mặt, còn 6.000.000₫ Ninh giữ lại là tiền mà trước đây N1 đã trả tiền mua xe máy này cho L, L1. Khi Công an huyện K mời N1 lên làm việc thì L có nhờ N1 trả cho ông S số tiền 6.500.000đ và N1 đã trả cho ông S số tiền 6.500.000đ tiền mặt vào khoảng nửa tháng sau. Quá trình bị cáo N1 làm việc với Công an thành phố C thì N1 có đưa Công an thành phố Chí L3 đến nhà ông S để lấy lại xe máy.
Các bị cáo L, L1, N1 đều đề nghị có mặt ông S để đối chất làm rõ về lời khai của các bị cáo. Bị cáo N1 đề nghị xác định chiếc xe máy tại thời điểm bị cáo mua đã không có số khung số máy, không có biển kiểm soát, nên giá trị chiếc xe máy không thể xác định giá trị là 20.000.000đ, mà giá trị chiếc xe máy phải giảm xuống.
Bị cáo N1 trình bày ngày 25/9/2024, khi công an thành phố C đến mời bị cáo lên làm việc, nhưng lại còng tay bị cáo và khi người yêu bị cáo lên gặp bị cáo ngày 27/9/2024 thì bị cáo cũng bị còng tay, bị cáo không biết việc Công an thành phố C làm như vậy có đúng không. Bị cáo có đưa người làm chứng là người yêu bị cáo là chị Nguyễn Vũ Bảo C và mẹ chị C là bà Vũ Thị Hồng T4 chứng kiến. Ngoài ra, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác. Ngoài ra, tại phiên toà bị cáo khiếu nại đối với hành vi của Công an thành phố C về việc không cho bị cáo khai, nhưng bị cáo không biết tên của Công an đó, bị cáo cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh; quá trình điều tra, truy tố thì bị cáo không có khiếu nại, ý kiến gì. Bị cáo xác định bị tạm giam từ ngày 25/9/2024, không phải ngày 27/9/2024 như Cáo trạng đã ghi.
Tại phiên toà ngày 17/3/2025:
Các bị cáo L, L1, N1 vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình tại phiên toà ngày 11/3/2025, các bị cáo đều xác định việc cầm cố xe máy tại nhà ông S chỉ là chứng cứ chứng minh việc N1 không phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, chứ không phải ông S có yếu tố cấu thành tội phạm khác, và ông S chỉ cầm cố tài sản, không biết xe máy do các bị cáo L, L1 trộm cắp có được và các bị cáo đều không nói cho ông S biết.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo: Căn cứ vào các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đều không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo L, L1 thừa nhận tội danh “trộm cắp tài sản”, còn bị cáo N1 không nhận tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, nhưng căn cứ vào lời khai của các bị cáo, lời khai của ông Đỗ Văn S, hành vi của các bị cáo đã thực hiện, đều xác định: Bị cáo N1 khi mua xe do L, L1 bán biết xe máy không có chìa khoá, không có giấy tờ của chủ xe, không có biển kiểm soát, không có số khung, số máy, biết giá trị thực tế của xe máy ngoài thị trường nếu giao dịch cũng phải trên 10.000.000đ, nhưng bị cáo mua với giá 6.000.000đ, ngoài ra, bị cáo biết về nhân thân xấu của các bị cáo L, L1, nên buộc bị cáo N1 phải biết xe máy đó là không hợp pháp. Tại cơ quan điều tra, các bị cáo đều thừa nhận hành vi của bị cáo N1 là tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, các lời khai đều thống nhất với nhau, nhưng tại phiên toà các bị cáo đều thay đổi lời khai, nhưng không chứng minh được, nên bị cáo N1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Do các bị cáo không thành khẩn khai báo, không ăn năn hối hận nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với cả 03 bị cáo.
Rút đề nghị trong cáo trạng đối với tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo N1 về việc tự nguyện giao nộp xe máy cho cơ quan điều tra Công an thành phố C.
Đối với đề nghị của bị cáo N1 về việc bị cáo bị còng tay, bị cáo không được khai báo trong thời gian điều tra thì bị cáo phải có tài liệu chứng cứ chứng minh, bị cáo khiếu nại đến Công an thành phố C tại giai đoạn điều tra, nhưng trong hồ sơ không có tài liệu nào thể hiện việc bị cáo khiếu nại.
Đối với việc các bị cáo đề nghị được đối chất với ông Đỗ Văn S thì đã có lời khai của ông S, đã tiến hành tra cứu số tài khoản của bị cáo N1 nhưng trong tài khoản của bị cáo N1 không thể hiện giao dịch nào từ tài khoản của ông S chuyển sang tài khoản của bị cáo N1 số tiền 6.500.000đ, nên không chấp nhận lời khai của bị cáo N1 về việc ông S cầm cố xe máy Vision với giá 6.500.000đ. Vì vậy, không cần phải tiến hành đối chất tại phiên toà giữa các bị cáo và ông S.
Bị cáo N1 không đồng ý với giá trị chiếc xe máy là 20.000.000đ vì tại thời điểm bị cáo mua đã không có số khung số máy, không có biển kiểm soát, nên giá trị chiếc xe máy phải giảm xuống thì VKS không chấp nhận, vì Hội đồng định giá xác định giá trị hiện tại của chiếc xe tại thời điểm định giá, còn số khung, số máy, biển kiểm soát là căn cứ xác định đặc điểm của xe, không làm giảm giá trị của xe máy. Trong quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đều được thống báo kết quả định giá tài sản, các bị cáo không có ý kiến gì. Căn cứ xác định tội danh của bị cáo là hành vi, mục đích, lỗi, nhận thức của bị cáo về việc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên toà, bị cáo N1 khai bị cáo bị còng tay khi Công an mời lên làm việc và khi người nhà lên gặp bị cáo, bị cáo có trình bày lời khai trong thời gian điều tra nhưng không được ghi lại trong biên bản, bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác. Trong hồ sơ vụ án, không có lời khai hoặc tài liệu nào thể hiện việc bị cáo khiếu nại hoặc có ý kiến về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, tại phiên toà bị cáo có ý kiến, nhưng cũng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh, nên HĐXX không chấp nhận. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Lời khai nhận tội của bị cáo L, L1 tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đối với hành vi trộm cắp tài sản, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lê Văn L (đã tái phạm, chưa được xóa án tích) rủ Nguyễn Văn L1 đi trộm cắp tài sản, L1 đồng ý. Khoảng 02 giờ 10 phút ngày 27/7/2024, cả hai phát hiện thấy nhà chị Nguyễn Thị Phương T2 ở số A đường T, khu dân cư N, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương để 01 chiếc xe mô tô bên trên để 01 ghế ngồi trẻ em trước cửa nhà. L1, L đã lợi dụng sơ hở chiếm đoạt của chị T2 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, biển kiểm soát 34C1 - 481.08 và 01 ghế ngồi trẻ em, tổng giá trị tài sản 20.100.000 đồng.
- Hành vi của bị cáo L, L1 lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Giá trị tài sản chiếm đoạt là 20.100.000đồng. Bị cáo L đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích. Do vậy, hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo L1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
- Đối với hành vi phạm tội của L, L1 xác định là đồng phạm có tính chất giản đơn, L là người khởi xướng, rủ rê, đề xuất và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên giữ vai trò thứ nhất, L1 là người chuẩn bị và trực tiếp điều khiển phương tiện, cảnh giới cho L vào lấy trộm tài sản nên L1 là người thực hành tích cực, có vị trí vai trò sau bị cáo L. Do đó, HĐXX căn cứ vào vị trí, vai trò của từng bị cáo để có hình phạt tương xứng.
- Lời khai của các bị cáo tại phiên toà và lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra không phù hợp với nhau, các bị cáo đều khai về việc N1 không biết xe máy do L1, L trộm cắp mà có, nhưng HĐXX xác định việc bị cáo N1 biết về việc mô tô biển kiểm soát 34C1 - 481.08 không có chìa khoá xe, không có biển kiểm soát, không có đăng ký xe, không có giấy tờ mua bán, giá chuyển nhượng trên thị trường cũng phải hơn 10.000.000đ, nhưng bị cáo mua với giá 6.000.000đ là thấp hơn; ngoài ra, bị cáo N1 biết bị cáo L, L1 có nhân thân xấu, đã từng bị Toà án xét xử, nên buộc bị cáo N1 phải biết xe có nguồn gốc không hợp pháp mà bị cáo N1 vẫn mua.
- Bị cáo N1 có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và buộc bị cáo phải nhận thức được tài sản mà L, L1 có được là do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua là vi phạm pháp luật, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên HĐXX không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo L tự nguyện đến Công an tự thú, bị cáo phạm tội (khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự), giá trị tài sản bị thiệt hại là 20.100.000đ (khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự), thuộc trường hợp gây thiệt hại không lớn nên được hưởng tình tiết quy định tại điểm r, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo L1 có bố được tặng thưởng Huân chương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, xét thấy các bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém. Vì vậy, cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
- Ngày 14-01-2025, bị cáo L1 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 năm 09 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 05 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 13 năm tù và bản án có hiệu lực pháp luật. Do vậy, khi quyết định hình phạt cần tổng hợp hình phạt cho bị cáo L1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
-
Về trách nhiệm dân sự:
- Chị T2 và anh V2 đã nhận lại chiếc xe máy và chiếc ghế trẻ em, không có đề nghị gì khác, nên không xem xét giải quyết.
- Các bị cáo N1, L, L1 không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết đối với số tiền 6.000.000đ, nên không xem xét giải quyết.
-
Về xử lý vật chứng:
- Đối với: 01 điện thoại Iphone XS Mas, màu vàng đồng, số IMEI 1: 353101102088654, IMEI 2: 353101102086518, không lắp sim, đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ, rạn của N1; 01 điện thoại Nokia màu đen, Model TA-1375, số IMEI 1 357332562036752, số IMEI 2: 357332562536751, lắp 01 sim Viettel số seri sim 8984048000934869739, có số điện thoại là 0869.321.xxx, máy đã qua sử dụng của L; 01 chiếc Iphone 06, màu hồng, số IMEI 355736070856919, trong lắp 01 sim có số seri 8984048000044788116, số điện thoại: 0382.880.xxx của L1 là công cụ, phương tiện các bị cáo thực hiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với xe máy loại Exciter không đeo biển số, màu xanh, không gương, không xác định được số khung, số máy là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nhưng chưa xác định được chủ sở hữu nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Dân sự, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương sẽ tiến hành thông báo công khai tìm chủ sở hữu trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên mà không xác định được chủ sở hữu tài sản thì sẽ bị tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với số tiền 6.000.000 đồng bị cáo L, L1 có được do phạm tội mà có cần truy thu sung quỹ Nhà nước, mỗi bị cáo là 3.000.000 đồng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
Các vấn đề khác:
- Anh Đỗ Thanh T5 không biết việc L, L1, N1 thực hiện hành vi phạm tội, để chiếc xe máy trộm cắp được tại nhà nên không đặt ra giải quyết.
- Tại phiên toà, các bị cáo đề nghị được đối chất với ông Đỗ Văn S để chứng minh cho việc bị cáo N1 đã trả lại xe cho L, L1 và L, L1 mang xe đến nhà ông S để cầm cố xe với số tiền 6.500.000đ (ông S chuyển tiền vào tài khoản của bị cáo N1). Tại lời khai của ông S trình bày về việc N1 có đi xe máy Vision đến nhà ông S gửi, không nói xe của ai, có giấy tờ xe hay không, không có việc ông S cầm cố, thế chấp xe máy này, không có việc ông S chuyển số tiền 6.500.000đ vào tài khoản của N1. Khi tiến hành tra cứu số tài khoản của bị cáo N1 nhưng trong tài khoản của bị cáo N1 không thể hiện giao dịch nào từ tài khoản của ông S chuyển sang tài khoản của bị cáo N1 số tiền 6.500.000đ. Ngoài ra, các bị cáo không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác. Vì vậy, không cần phải tiến hành đối chất tại phiên toà giữa các bị cáo và ông S, không có căn cứ chứng minh tội phạm mới đối với ông S.
- Tại phiên toà, bị cáo N1 đề nghị xem xét đối với giá trị chiếc xe máy là 20.000.000đ vì tại thời điểm bị cáo mua đã không có số khung số máy, không có biển kiểm soát, nên giá trị chiếc xe máy phải giảm xuống thì VKS không chấp nhận với lý do Hội đồng định giá xác định giá trị hiện tại của chiếc xe tại thời điểm định giá, còn số khung, số máy, biển kiểm soát là căn cứ xác định đặc điểm của xe, không làm giảm giá trị của xe máy và căn cứ xác định tội danh của bị cáo là hành vi, mục đích, lỗi, nhận thức của bị cáo về việc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. HĐXX xét thấy, đại diện Viện kiểm sát không chấp nhận đối với đề nghị của bị cáo N1 là phù hợp.
- Về án phí: Căn cứ vào Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
- Về biện pháp ngăn chặn: Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo L, N1, mỗi bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm h, r khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L1.
Căn cứ khoản 1 Điều 323, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo N1.
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với tất cả các bị cáo.
Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Dân sự;
-
Về tội danh và hình phạt:
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn L và Nguyễn Văn L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn L 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 năm 09 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 05 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy tại bản án số 01/2025/HS-ST ngày 14-01-2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của các bản án là 14 (Mười bốn) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/8/2024.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy N1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N1 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
-
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- + 01 điện thoại Iphone XS Mas, màu vàng đồng, số IMEI 1: 353101102088654, IMEI 2: 353101102086518, không lắp sim, đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ, rạn;
- + 01 điện thoại Nokia màu đen, Model TA-1375, số IMEI 1 357332562036752, số IMEI 2: 357332562536751, lắp 01 sim Viettel số seri sim 8984048000934869739, có số điện thoại là 0869.321.xxx, máy đã qua sử dụng;
- + 01 chiếc Iphone 06, màu hồng, số IMEI 355736070856919, trong lắp 01 sim có số seri 8984048000044788116, số điện thoại: 0382.880.xxx, máy đã qua sử dụng.
- + Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật giao cho Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh thông báo tìm kiếm chủ sở hữu đối với xe máy loại Exciter không đeo biển số, màu xanh, không gương, không xác định được số khung, số máy trong thời hạn 01 năm để trả cho chủ sở hữu hợp pháp, hết thời hạn trên mà không xác định được chủ sở hữu tài sản thì tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước.
- - Truy thu của L, L1, mỗi bị cáo 3.000.000đ (Ba triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
- Kiến nghị Tập đoàn C2 (V5) thu hồi số thuê bao 0869.321.558 và 0382.880.221, đồng thời tịch thu số tiền hiện có trong tài khoản của số thuê để nộp vào ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn L, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Duy N1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Luyến |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: L, L - trộm cắp tài sản N - Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
