Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ- ST

Ngày 17 tháng 3 năm 2025

V/v "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ VIỆT TRÌ – TỈNH PHÚ THỌ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Minh

Ông Vũ Hùng Tuấn

Thư ký Tòa án ghi biên bản: Bà Nguyễn Bích Huệ - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trần Thành - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 17/3/2025 tại trụ sở TAND thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 420/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 18/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-DS ngày 28/02/2025 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuấn D, sinh năm 1984
  • HKTT: số nhà B, tổ B, khu V, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay, vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • * Bị đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1972
  • HKTT: số nhà B, tổ B, khu V, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay, vắng mặt. (Không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai chị Nguyễn Thị Tuấn D trình bày: Chị và anh Phạm Văn H được tự nguyện tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ năm 2004. Sau khi kết hôn vợ chồng đi ở thuê đến 2008 thì vợ chồng làm nhà ở riêng tại tổ B, khu V, phường M, tp V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian dài. Đến năm 2010 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh H thường xuyên rượu chè dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn cãi nhau, cũng có lần anh H còn đánh chị. Năm 2015 do chị thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể cải thiện được nên chị đi lao động làm ăn tại Đài Loan. Khi này thì vợ chồng chỉ thi thoảng gọi điện với nhau, không thường xuyên quan tâm đến nhau. Tháng 11/2024 chị trở về Việt Nam thì chỉ sau hai ngày vợ chồng lại mẫu thuẫn nên chị không thể ở được với anh H, chị sang nhà bố đẻ chị ở gần đó để ở. Nay chị xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể hòa hợp được. Vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay, vì vậy chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin được ly hôn với anh H.

- Anh Phạm Văn H, trình bày: anh nhất trí với lời khai của chị D về quá trình kết hôn và quá trình chung sống. Đến tháng 11/2024 chị D trở về Việt nam. Khi chị D đi nước ngoài ban đầu vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc, nhưng lâu dần thì ít liên lạc chỉ khi có việc mới liên lạc với nhau. Khi chị D về Việt Nam từ tháng 11/2024 chị có về nhà một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Chị D bỏ sang nhà bố đẻ từ cuối tháng 12/2024, thi thoảng chị D vẫn về nhà. Nay chị D xin ly hôn thì anh không đồng ý, vì anh vẫn còn tình cảm với chị D và muốn vợ chồng hàn gắn.

*Về con chung: Chị Nguyễn Thị Tuấn D và anh Phạm Văn H thống nhất xác định có 01 con chung là cháu Phạm Tuấn A, sinh ngày 19/9/2004. Hiện nay cháu Tuấn A đã thành niên, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

*Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Nguyễn Thị Tuấn D và anh Phạm Văn H xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Chị Nguyễn Thị Tuấn D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Đây là tranh chấp về việc “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn có nơi cư trú tại: khu V, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị D và anh H kết hôn với nhau trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ năm 2004 là phù hợp với luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Theo chị D trình bày năm 2010 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh H thường xuyên rượu chè dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn cãi nhau, cũng có lần anh H còn đánh chị. Năm 2015 do chị thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể cải thiện được nên chị đi lao động làm ăn tại Đài Loan. Khi này thì vợ chồng chỉ thi thoảng gọi điện với nhau, không thường xuyên quan tâm đến nhau. Tháng 11/2024 chị trở về Việt Nam thì chỉ sau hai ngày vợ chồng lại mẫu thuẫn nên chị không thể ở được với anh H, chị sang nhà bố đẻ chị ở gần đó để ở. Nay chị xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể hòa hợp được. Vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay, vì vậy chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin được ly hôn với anh H.

Phía anh H không đồng ý ly hôn và mong muốn vợ chồng hàn gắn, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh H cũng không đưa ra được căn cứ nào để chứng minh cho việc anh mong muốn đoàn tụ với chị D và anh cũng không có biện pháp nào để cải thiện mối quan hệ vợ chồng. Quá trình hòa giải anh H cũng đã trình bày về việc mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị D là bất đồng quan điểm sống. Chị D đã bỏ sang nhà bố đẻ chị D để ở từ cuối tháng 12/2024. Điều đó chứng tỏ giữa chị D và anh H đã có mâu thuẫn trầm trọng.

Tại biên bản xác minh ngày 17/02/2025 tại UBND phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, được địa phương cung cấp như sau: Chị Nguyễn Thị Tuấn D và anh Phạm Văn H có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ ngày 05/02/2004. Sau khi kết hôn chị D và anh H về sinh sống tại địa phương. Đến năm 2015 chị D đi lao động tại Đài Loan và đến tháng 11/2024 chị D về nước được một thời gian thì vợ chồng mâu thuẫn. Chị D bỏ về nhà bố đẻ ở cạnh nhà chị D. Còn nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì địa phương không nắm được. Chị D và anh H có 01 con chung là cháu Phạm Tuấn A, sinh ngày 19/9/2004 hiện nay cháu Tuấn A đã thành niên. Chị D và anh H có 01 tài sản chung là 01 ngôi nhà hai tầng do vợ chồng xây trên đất của bố đẻ chị D cho. Nay địa phương được biết chị D xin ly hôn với anh H tại Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, quan điểm của chính quyền địa phương là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Do vậy về quan hệ hôn nhân xác định được mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh H đã trầm trọng và cuộc sống không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó nên xử cho chị D và anh H được ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: chị Nguyễn Thị Tuấn D và anh Phạm Văn H xác định vợ chồng 01 con chung là Phạm Tuấn A, sinh ngày 19/9/2004. Hiện nay cháu đã thành niên nên chị D và anh H không có đề nghị gì.

[4] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: chị Nguyễn Thị Tuấn D và anh Phạm Văn H thống nhất tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết.

[5] Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện VKS nhân dân thành phố V có quan điểm: vụ án thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay tuân thủ đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đại điện VKS đề nghị Tòa án nhân dân thành phồ Việt trì:

  • Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuấn D. Xử: Chị Nguyễn Thị Tuấn D và anh Phạm Văn H được ly hôn;
  • Về con chung: chị D và anh H thống nhất con chung đã thành niên nên không có đề nghị gì.
  • Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: chị D và anh H thống nhất tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên không xem xét giải quyết.
  • Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuấn D phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuấn D phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuấn Dung
  2. Xử: cho chị Nguyễn Thị Tuấn D và anh Phạm Văn H được ly hôn.

  3. Về con chung: đã thành niên nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
  4. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: chị Nguyễn Thị Tuấn D và anh Phạm Văn H thống nhất tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuấn D phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị Nguyễn Thị Tuấn D đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003342 ngày 17/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Việt Trì;
  • - Chi cục THADS TP Việt Trì;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Minh Phương;
  • - Lưu: HS, VP (10).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Phạm Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HNGĐ- ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 12/2025/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị D xin ly hôn anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger