Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG NINH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 17 - 03 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Châu Mạnh Cường.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Nhân và ông Nguyễn Xuân Hành.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thuý Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Ông Phan Bảo Cường, Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại Hội trường thôn L, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 25/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 03/3/2025 đối với bị cáo:

Lê Văn H; sinh ngày 11 tháng 8 năm 1983 tại Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê V (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị Đ; có vợ: Nguyễn Thị Thu H1 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 14/01/2025 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Đức V1, sinh năm 1965, địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (đã chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1966, địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • 1. Bà Phùng Thị Hương S, sinh năm 1968, địa chỉ: Xóm A Thôn X, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
  • 2. Ông Trương Ngọc H2, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn V, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, có đơn xin xét xử vắng mặt

Người làm chứng: Ông Lê Văn G, sinh năm 1957, địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 10/12/2024, Lê Văn H, sinh năm 1983, chỗ ở: thôn N, Q, Q, Thanh Hóa điều khiển xe ô tô BKS: 36H - 056.56 (trên xe ô tô có anh Trương Ngọc H2, sinh năm 1988, chỗ ở thôn V, Q, Q, Thanh H3 ngồi ở ghế phụ) lưu thông trên tuyến đường QL1A theo hướng Bắc - Nam có giấy phép lái xe hạng C và không sử dụng rượu, bia, chất ma túy hay các chất cấm khác, khi đi đến km 677 + 800m đường QL1A thuộc địa phận thôn D, G, Quảng Ninh, Quảng Bình đã vượt xe không đảm bảo an toàn khi vượt xe có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường vượt dẫn đến xảy ra va chạm giao thông đường bộ với xe mô tô BKS: 73K5 – 9796 do ông Nguyễn Đức V2 (sinh năm 1965), chỗ ở: thôn T, G, Quảng Ninh, Quảng Bình điều khiển theo hướng N - B.,Hậu Q: Ông Nguyễn Đức V1 tử vong tại hiện trường. Hai phương tiện bị hư hỏng do TNGT.

Ngày 12/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định trưng cầu giám định số 558/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng K Công an tỉnh Q giám định dấu vết và cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa xe ô tô BKS: 36H-056.56 với xe mô tô BKS: 73K5-9796; tốc độ của xe ô tô BKS: 36H- 056.56 và xe mô tô BKS: 73K5-9796 trước khi xảy ra va chạm.

Tại Kết luận giám định số: 03/KH-KTHS ngày 06/01/2025 của Phòng K, Công an tỉnh Q, kết luận:

Dấu vết trượt xước bám dính chất màu trắng (dạng sơn) ở mẫu cố định phần bên phải ốp trước tay lái xe mô tô biển số 73K5 – 9796 (ảnh 7,8 trong Bàn ảnh giám định) có đặc điểm phù hợp với dấu vết hằn trượt mất sơn màu trắng ở mặtgoài phần bên phải mặt nạ xe ô tô biển số Số 36H 1-05656 (ang giám định). h 26 tr trong bản ánh

Dấu vết trượt xước mất sơn màu xám, bám dính chất màu trắng (dạng sơn) ở cổ xe và dấu vết trượt xước mất sơn màu đen, bám dính chất màu trắng (dạng sơn) ở đầu trên phuộc trước bên phải xe mô tô biển số 73K5-9796 (ảnh 11 đến 15 trong bản ảnh giảm định) có đặc điểm phù hợp với dấu vết hằn trượt mất sơn màu trắng, bám dính chất màu đen, xám (dạng sơn) ở mặt ngoài phần bên phải cản trước xe ô tô biển số 36H-056.56 (dấu vết 1 - ảnh 31 đến ảnh 34 trong bản ảnh giảm định).

Dấu vết trượt xước mất sơn màu xanh, bám dính chất màu trắng (dạng sơn) ở chắn bùn bánh xe trước và dấu vết rách, trượt xước mất cao su màu đen, bám dính chất màu trắng (dạng sơn) ở mặt lăn và má lốp bên phải bánh trước xe mô tô biển số 73K5 – 9796 (ảnh 16 đến 20 trong bản ảnh giám định) có đặc điểm phù hợp với dấu vết trượt xước mất sơn màu trắng, bám dính chất màu xanh, đen (dạng sơn, cao su) ở mặt ngoài phần bên phải cản trước xe ô tô biển số 36H – 056.56 (dấu vết 2 - ảnh 35, 36 trong bản ảnh giám định).

Đặc điểm các dấu vết nêu trên phù hợp với với tình huống góc trước bên phải đầu xe ô tô biển số 36H – 056.56 va chạm phần trước xe mô tô biển số 73K5 – 9796 theo hướng từ trước ra sau so với trục dọc của xe mô tô biển số 73K5-9796.

- Không đủ cơ sở xác định tốc độ xe ô tô tải biển số 36H – 056.56 tại thời điểm ngay trước khi xảy ra tai nạn giao thông qua dấu vết phanh do không xác định được hệ số ma sát trượt của mặt đường.

Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô biển số 73K5-9796 do trong hồ sơ khám nghiệm hiện trường không thể hiện xe mô tô để lại dấu phanh.

Ngày 10/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định trưng cầu giám định số 554/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng K Công an tỉnh Q giám định tử thi ông Nguyễn Đức V3, sinh năm 1965, chỗ ở: T, G, Quảng Ninh, Quảng Bình.

Tại Kết luận giám định tử thi số: 1720/KL-PY ngày 31/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q, kết luận:

  • * Các kết quả chính:
  • - Kết quả khám nghiệm:
  • Chấn thương Ngực:
  • + Vùng ngực trước bên trái có các dấu vết tụ máu không liên tục. Tụ máu tổ chức liên kết phía dưới xương sườn tử số 2 đến số 6 hai bên.
  • + Khoang màng phổi bên phải có 100ml dịch máu. Khoang màng phổi bên trái có 50ml máu đông và dịch máu.
  • + Hai phổi màu hồng nhạt, sung huyết, bề mặt hai phổi có các vết đụng dập, tụ máu rải rác.
  • + Bao tim rách tại vị trí cuống tim. Khoang màng tỉm có 50ml máu đông và dịch máu, R phức tạp thành tâm nhĩ hai bên, diện rách kích thước (8x3)cm, lòng vết rách thông với buồng tâm nhĩ hai bên; qua vết rách có máu đông, dịch máu chảy từ tâm nhĩ hai bên ra bên ngoài.
  • - Gãy kín 1/3 dưới xương trụ.
  • - Gãy kín 1/3 dưới xương đùi.
  • Trên cơ thể có các vết sây sát, rách da, tụ máu khác ở vùng mặt, bụng, tay, chân.
  • - Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Không
  • - Kết quả khác: không
  • * Kết luận: Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Đức V3, sinh năm 1965, chỗ ở: thôn T, G, Quảng Ninh, Quảng Bình: Đa chấn thương.

Ngày 27/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Yêu cầu định giá tài sản số 1303/YC-ĐTTH định giá thiệt hại tài sản đối với xe ô tô BKS: 36H-056.56 và xe mô tô BKS 73K5-9796.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 26/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q, kết luận:

  • - Sữa chữa hư hỏng của xe ô tô BKS: 36H 056.56 giá trị là 50.705.117₫ (Năm mươi triệu, bảy trăm linh năm nghìn, một trăm mười bảy ngàn đồng).
  • - Sữa chữa hư hỏng của xe mô tô BKS: 73K5 - 9796 giá trị là 5.244.000₫ (Năm triệu hai trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).

Ngày 18/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định trưng cầu giám định số 572/QĐ-ĐTTH trưng cầu Sở Giao thông vận tải tỉnh Q giám định kỹ thuật an toàn phương tiện đối với xe ô tô BKS: 36H-056.56.

Tại Kết luận giám định số: 01/2025-GĐPT ngày 06/01/2025 của Sở Giao thông vận tải tỉnh Q, kết luận:

Tình trạng kỹ thuật của xe ô tô tải bảo ôn mang biển kiểm soát 36H – 056.56:

  • - Hiện tại: Xe không đảm bảo điều kiện kỹ thuật hoạt động tham gia giao thông (lý do xe bị hư hỏng).
  • - Trước khi xảy ra tai nạn: Xe hoạt động bình thường. Ngày 12/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định trưng cầu giám định số 561/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng K Công an tỉnh Q giám định nội dung hình ảnh trong file video cân giám định có bị chỉnh sửa, cắt ghép không; xác định tốc độ của xe ô tô BKS: 36H-056.56 và xe mô tô BKS: 73K5-9796 trước thời điểm xảy ra tai nạn giao thông.

Tại Kết luận số: 02/KH-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Q, kết luận:

  • - Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong mẫu cần giám định ký hiệu A.
  • Trong khoảng thời gian từ 17:45:20 đến 17:45:23 ngày 10/12/2024 (thời gian hiển thị trên khung hình) tốc độ di chuyển của phương tiện gắn camera giám sát hành trình trong khoảng từ 47.6km/h đến 48,24km/h.
  • Không đủ cơ sở kết luận tốc độ của phương tiện khác do không xác định được chính xác quảng đường di chuyển của phương tiện khác. (BL:121)
  • * Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

Ngày 10/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện tyện Q ra quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu số 556/QĐ-ĐTTH thu giữ những đồ vật, tài liệu sau:

  • - 01 (một) xe ô tô BKS: 36H – 056.56 (xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông).
  • - 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện phần tập đoàn X ngày 15/5/2023, có hiệu lực đến ngày 14/5/2025.
  • - 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô, chủ xe ô tô Trương Ngọc H2, số TNDS24/00035228 do Công ty TNHH B, cấp ngày 08/4/2024
  • - 01 (một) giấy biên nhận thế chấp đối với xe ô tô BKS: 36H – 056.56 của Ngân hàng thương mại cổ phần T chi nhánh T1 ngày 15/11/2024.

Ngày 10/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu số 555/QĐ-ĐTTH thu giữ những đồ vật, tài liệu sau:

  • - 01 (một) xe mô tô BKS: 73K5 – 9796 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông) tai hiện trường vụ tai nạn, không có giấy đăng ký xe mô tô, xe máy (qua tra cứu, xác minh tại Đội CSGT Công an huyện Q kết quả xác minh xe mô tô BKS: 73K5 – 9796 đăng ký ngày 28/8/2003 chủ xe Phùng Thị Hương Sen địa chỉ tại L, L, Quảng Bình).

Ngày 10/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu số 557/QĐ-ĐTTH thu giữ những đồ vật, tài liệu sau:

  • - 01(một) giấy phép lái xe hạng C, mang tên Lê Văn H, số [...] do Sở GTVT tỉnh B cấp ngày 26/4/2021.

Ngày 10/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q thu giữ 01 (một) video có tên “10122024” được trích xuất từ camera hành trình của xe ô tô BKS: 36H-056.56 được chứa trong 01 (một) USB có vỏ bằng nhựa màu xanh, nắp kim loại màu bạc.

  • * Việc xử lý vật chứng:

Ngày 09/02/2025 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra quyết định xử lý tài sản đồ vật tài liệu số 54/QĐ-ĐTTH đối với đồ vật, tài liệu nêu trên như sau:

  • - Trả lại cho anh Trương Ngọc H2 (sinh năm 1988) ở Q, Q, Thanh Hóa – là chủ sở hữu xe ô tô BKS: 36H - 056.56 những đồ vật, tài liệu sau:
  • + 01 (một) xe ô tô BKS: 36H – 056.56 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông).
  • + 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 1830288 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới thuộc Công ty cổ phần X ngày 15/5/2023, có hiệu lực đến ngày 14/5/2025;
  • + 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô, chủ xe ô tô Trương Ngọc H2, số TNDS24/00035228 do Công ty TNHH B, cấp ngày 08/4/2024;
  • + 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện phần tập đoàn X ngày 15/5/2023, có hiệu lực đến ngày 14/5/2025.
  • + 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô, chủ xe ô tô Trương Ngọc H2, số TNDS24/00035228 do Công ty TNHH B, cấp ngày 08/4/2024;
  • + 01 (một) giấy biên nhận thế chấp đối với xe ô tô BKS: 36H – 056.56 của Ngân hàng thương mại cổ phần T chi nhánh T1 ngày 15/11/2024.
  • - Trả lại cho bà Nguyễn Thị D (sinh năm 1966) ở G, Quảng Ninh, Quảng Bình là người được gia đình uỷ quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến vụ tai nạn giao thông những đồ vật, tài liệu sau: 01 (một) xe mô tô BKS: 73K5 - 9796 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra, Lê Văn H đã đến gia đình nạn nhân ông Nguyễn Đức V1 để thăm hỏi, động viên, hỗ trợ cho phí mai táng, tổn thất tinh thần và chi phí sửa chữa xe mô tô BKS: 73K5 – 9796 cho gia đình với tổng số tiền 150.000.000 đồng. Phía đại diện gia đình nạn nhân ông Nguyễn Đức V1 là bà Nguyễn Thị D (vợ của ông V2), được gia đình uỷ quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến vụ tai nạn giao thông nói trên đã đồng ý với mức hỗ trợ của Lê Văn H đã đưa ra. Hai bên đã thống nhất tự nguyện thỏa thuận phần dân sự vụ tai nạn giao thông, và cam kết không khiếu nại, khiếu kiện gì về vụ tai nạn giao thông trên.
  • Đối với xe ô tô BKS 36H – 056.56 bị hư hỏng thiệt hại tài sản 50.705.117 đồng anh Trương Ngọc H2 là chủ xe ô tô trên không yêu cầu bị cáo Lê Văn H là lái xe phải chịu trách nhiệm sửa chữa, mà anh H2 sẽ tự khắc phúc, sửa chữa.

Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 15 đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 đến 40 tháng và đề nghị xử lý vật chứng trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Tại phiên toà vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[2] Về nội dung:

Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Lê Văn H khai nhận: Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 10/12/2024, Lê Văn H điều khiển xe ô tô BKS: 36H – 056.56 lưu thông trên tuyến đường QL1A theo hướng Bắc – N, khi đi đến km 677 + 800m đường QL1A thuộc địa phận thôn D, xã G, huyện Q tỉnh Quảng Bình đã vượt xe không đảm bảo an toàn khi vượt xe có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường vượt dẫn đến xảy ra va chạm giao thông đường bộ với xe mô tô BKS 75K5 - 9796 do ông Nguyễn Đức V1 điều khiển theo hướng Nam – Bắc làm ông Nguyễn Đức V1 tử vong tại hiện trường, hai phương tiện bị hư hỏng, đã vi phạm vào điểm a khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, kết quả khám nghiệm tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lê Văn H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ đã “vượt xe không đảm bảo an toàn khi vượt xe có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường vượt” dẫn đến xảy ra va chạm giao thông đường bộ với xe mô tô do ông Nguyễn Đức V1 điều khiển gây hậu quả ông Nguyễn Đức V1 tử vong tại hiện trường, hai phương tiện bị hư hỏng, bị cáo đã vi phạm vào điểm a khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định nên hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, quá trình điều tra và tại phiên toà khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, được gia đình người bị hại có đơn xin bãi nại và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị cáo là lao động chính trong gia đình phải trực tiếp nuôi dưỡng mẹ không có khả năng lao động và nuôi dưỡng con nhỏ đang đi học. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.

[5] Về quyết định hình phạt: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Khi xảy ra tai nạn cũng có một phần lỗi của bị hại ông Nguyễn Đức V1 điều khiển xe mô tô trong tình trạng có sử dụng rượt, bia mà trong mái có nồng độ cồn 60,2mmol/L x 4,608 = 277,4016mg/100ml vượt quá quy định. Trên cơ sở phân tích đánh giá đến tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đối chiếu với Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTPngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo nên cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo như đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là có căn cứ đúng pháp luật. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, giám sát đối với bị cáo cũng đủ nghiêm, tạo điều kiện cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cải tạo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Văn H đã hỗ trợ cho gia đình bị hại với tổng số tiền 150.000.000 đồng, hai bên đã thống nhất tự nguyện thỏa thuận phần dân sự và cam kết không khiếu nại, khiếu kiện gì về vụ tai nạn giao thông trên. Đối với xe ô tô BKS 36H – 056.56 bị hư hỏng thiệt hại tài sản 50.705.117 đồng anh Trương Ngọc H2 là chủ xe ô tô trên không yêu cầu bị cáo Lê Văn H là lái xe phải chịu trách nhiệm sửa chữa, mà anh H2 sẽ tự khắc phúc, sửa chữa do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

Ngày 09/02/2025 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra quyết định xử lý tài sản đồ vật tài liệu số 54/QĐ-ĐTTH đối với đồ vật, tài liệu nêu trên như sau:

  • - Trả lại cho anh Trương Ngọc H2– là chủ sở hữu xe ô tô BKS: 36H - 056.56 những đồ vật, tài liệu sau: 01 (một) xe ô tô BKS: 36H – 056.56 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông); 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 1830288 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới thuộc Công ty cổ phần X ngày 15/5/2023, có hiệu lực đến ngày 14/5/2025; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô, chủ xe ô tô Trương Ngọc H2, số TNDS24/00035228 do Công ty TNHH B, cấp ngày 08/4/2024; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện phần tập đoàn X ngày 15/5/2023, có hiệu lực đến ngày 14/5/2025; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô, chủ xe ô tô Trương Ngọc H2, số TNDS24/00035228 do Công ty TNHH B, cấp ngày 08/4/2024; 01 (một) giấy biên nhận thế chấp đối với xe ô tô BKS: 36H – 056.56 của Ngân hàng thương mại cổ phần T chi nhánh T1 ngày 15/11/2024.
  • - Trả lại cho bà Nguyễn Thị D là vợ của bị hại những đồ vật, tài liệu sau: 01 (một) xe mô tô BKS: 73K5 - 9796 (bị hư hỏng do tai nạn giao thông.

Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là anh Trương Ngọc H2, bà Nguyễn Thị D (đại diện bị hại) là đúng quy định. Đối với vật chứng còn lại: 01(một) giấy phép lái xe hạng C, mang tên Lê Văn H, số [...] do Sở GTVT tỉnh B cấp ngày 26/4/2021 là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo cần trả lại cho bị cáo. Đối với 01 (một) video có tên “10122024” được trích xuất từ camera hành trình của xe ô tô BKS: 36H-056.56 được chứa trong 01 (một) USB có vỏ bằng nhựa màu xanh, nắp kim loại màu bạc là tài liệu chứng cứ của vụ án cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[8]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9]. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ quy định tại Điều 268; khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1 Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

1. Về tội danh và hình phạt:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • - Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn H 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/3/2025).
  • Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  • 2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự.
  • Trả lại tại phiên tòa cho bị cáo Lê Văn H: 01(một) giấy phép lái xe hạng C, mang tên Lê Văn H, số [...] do Sở GTVT tỉnh B cấp ngày 26/4/2021.
  • Vật chứng nêu trên có tại hồ sơ vụ án.
  • Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 01 (một) USB có vỏ bằng nhựa màu xanh, nắp kim loại màu bạc.
  • 3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án xử: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
  • 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Công an tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THA huyện Quảng Ninh;
  • - Những người TGTT khác;
  • - UBND xã Quảng Phúc;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H phạm tội VPVTGGTĐB
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger