|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HSST
Ngày: 12-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CÔNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long;
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Xuân Thùy;
- Ông Trần Văn Trang.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Xuân Trường.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà : Ông Ngô Văn Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo,
Phạm Văn H - Sinh ngày: 10/3/1988; nơi cư trú: Thôn N, xã X, huyện X, Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 và Nguyễn Thị H2; Gia đình bị cáo có 02 anh em bị cáo là thứ nhất; bị cáo có vợ Phạm Thị T sinh năm 1989; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2022, tiền án, tiền sự : Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/01/2025 đến nay.
- Bị hại: Bà Trịnh Thị N, sinh năm 1958; địa chỉ: Thôn Tiền Phong, xã Xuân Phúc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định - đã chết.
- Người đại của bị hại: Anh Phạm Thanh S, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Phạm Minh T1; “vắng mặt”
- Anh Hoàng Văn P; “vắng mặt”
- Chị Phạm Thị T, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn H, sinh năm 1988, trú tại: Thôn N, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định. Khoảng 21 giờ ngày 16/11/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda –Wave, màu sơn đỏ đen, BKS: 18X1-4975 theo hướng từ xã X đi UBND xã X để về nhà. Khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, H đi đến đoạn đường xã thuộc thôn T xã X. Đây là đoạn đường hai chiều, lòng đường rộng 5,50 mét, không có điện chiếu sáng, bên phải theo hướng đi của H là khu dân cư, bên trái là sông T. Bên lề đường có biển báo phía trước công trình đang thi công dự án Kè sông T, tại vị trí này có cắm hàng cọc tre và buộc dây nilon màu trắng, đỏ. Nhưng do H không chú ý quan sát, không giảm tốc độ theo quy định khi đi qua khu vực đang thi công trên đường bộ, đường tối tầm nhìn bị hạn chế đồng thời Phạm Văn H đã điều khiển xe đi sang phần đường ngược chiều nên xe mô tô do H điều khiển đã xô vào bà Trịnh Thị N, sinh năm 1958, trú tại: thôn T, xã X đang đứng sát lề đường bên trái theo chiều tiến của H làm bà N và H ngã xuống mặt đường, xe mô tô BKS: 18X1-4975 đổ.
Ngay sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan CSĐT Công an huyện X phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ và chính quyền địa phương tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập dấu vết trên phương tiện và trưng cầu giám định nguyên nhân chết của bà Trịnh Thị N.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường là trục đường xã thuộc địa phận thôn T, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Đây là đường hai chiều, đường cong, phía bên phải theo hướng đi của H là khu dân cư, bên trái là bờ sông đang thi công hệ thống kè, mặt đường nhựa phía bờ sông đã bị đào, bới múc thành rãnh sâu một đoạn dài 23,1 m, rộng 3,4m. Mặt đường nhựa còn lại rộng 3,4m. Tại vị trí phần đường bị múc có cắm 02 cọc tre, trên 02 cọc tre có buộc dây nilon màu trắng đỏ. Tại hiện trường để lại 03 vết máu số (1), (2), (3), một mảnh nhựa vỡ đánh số (4); 01 cặp tóc nhựa đánh số (5). Vết máu số (1) hình nhỏ giọt nằm rải rác trên diện (0,60x0,35)m, tâm vết (1) cách mép đường bên dân cư (mép đường làm chuẩn) là 2,98m. Vết máu số (2) là vết máu loang nằm trên mặt đường nhựa, có kích thước (0,04 x 0,07) mét, tâm vết cách tâm vết máu (1) 0,6 mét và cách mép đường làm chuẩn 3,21 mét. Vết máu số (3) không có hình dạng xác định nằm trên thân cọc tre cắm ở mép đường đã bị đào bới, có kích thước
(0,36x 0,16) mét, điểm cao nhất và điểm thấp nhất của vết cách mặt đường nhựa lần lượt là 0,88 mét và 0,52 mét, tâm vết cách mép đường làm chuẩn 3,45 mét.
- Vết nhựa vỡ số (4) có kích thước (0,3 x 0,2) mét, nằm trên bề mặt bùn đất khu vực đã bị đào bới, múc thành rãnh, tâm vết cách mép đường làm chuẩn 3,51 mét.
- Cặp tóc nhựa số (5) nằm trên bề mặt bùn đất khu vực đường đã bị đào bới, múc thành rãnh, tâm vết (5) cách mép đường làm chuẩn 3,55 mét.
Kết quả khám phương tiện:
Xe mô tô BKS: 18X1-4975: Bên phải theo chiều tiến của xe: má lốp và mặt lăn lốp bánh trước, vị trí ký tự MAX có vết trượt, bám dính chất màu đen, kích thước (12x4,5)cm, chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh. Tại vị trí ký tự “LOAD” có vết trượt, bám dính chất màu đen, kích thước (2,5x1x2) cm, chiều hướng vết từ ngoài vào tâm bánh. Mặt ngoài phần chắn bùn bánh trước, từ mép trước về sau 0,9 cm, cách mặt đất 54 cm, chiều hướng từ trước về sau.
Bên trái theo chiều tiến của xe: Mặt kính đèn chiếu sáng từ mặt đất lên 97,5 cm rải rác có bám dính chất màu nâu đỏ trên diện (11x3,5)cm, mặt ngoài đầu ốc hãm trục bánh trước, từ mặt đất lên 27 cm trượt xước kim loại, bám dính chất màu trắng, kích thước (0,5 x0,5)cm, mặt ngoài yên xe và ốp nhựa liền kề phía dưới bám dính bùn, đất, cát.
Kết quả khám nghiệm tử thi:
Tại Bản kết luận giám định số: 1890/KLGĐTT-KTHS ngày 03/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân như sau: Các kết quả chính: lồng ngực giữa xương ức bầm tím, kích thước (4x3) cm; Lồng ngực trái dưới núm vú bầm tím trên diện (10x5)cm; Vùng bụng dưới rốn bầm tím, hích thước (5x4)cm; Vùng thắt lưng phải xây sát trợt da, kích thước (6x5)cm; Mặt trước cánh tay trái bầm tím trên diện (11x5)cm; Khuỷu tay phải trợt da, kích thức (1x1)cm. Tụ máu dưới da cơ vùng thái dương đỉnh phải trên diện (15x12) cm. Vỡ xương hộp sọ vùng thái duwowngphair dài 5cm. Qua đường vỡ có nước máu chảy ra. Nguyên nhân chất của nạn nhân Trịnh Thị N do chấn thương vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ. Cơ chế: do va đập và chà sát.
Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra Phạm Văn H và gia đình tự nguyện thỏa thuận và bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Hiện gia đình bị hại là ông Phạm Thanh S không có yêu cầu gì thêm về bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Phạm Văn H.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSXT ngày 18/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố Phạm Văn H để xét xử về tội “Vi phạm quy
định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên đã đánh giá hành vi phạm tội, phân tích về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Về tội danh và hình phạt chính: Tuyên bố Phạm Văn H phạm tội ‘Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ';
Xử phạt Phạm Văn H từ 01 năm 06 tháng đên 01 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, người đại diện cho bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về dân sự nữa là phù hợp.
Về xử lý vật chứng; Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị HĐXX: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Phạm Văn H.
Bị cáo nhận tội, không có tranh luận gì với Kiểm sát viên.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi phạm tội của mình. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc kết tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay thể hiện thống nhất với lời khai của bị cáo trước đây tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản hiện trường, vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết hợp cùng với kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, từ đó đã đủ sơ sở khẳng định: Khoảng 21 giờ ngày 16/11/2024, Phạm Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu: Honda – Wave, sơn màu: đỏ đen, BKS: 18X1-4975 dung tích xilanh 109 cm³ lưu thông trên đường trục xã X hướng từ xã X đi UBND xã X. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn T, xã X, huyện X, đây là đoạn đường đang thi công kè sông nhưng do H không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi qua khu vực đang thi công đường bộ, khi trời tối, tầm nhìn bị hạn chế, đã điều khiển xe sang hết phần đường ngược chiều gây tai nạn làm bà Trịnh Thị N tử vong. Hành vi của hùng vi phạm khoản khoản 2, khoản 5 Điều 5, Thông tư 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G và khoản 23, Điều 8 khoản 1 điều 9 Luật Giao thông đường bộ sửa đổi năm 2024. Vì vậy, hình vi của bị cáo đã cấu thành tội ‘Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của Phạm Văn H là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm về trật tự an toàn giao thông công cộng trên lĩnh vực giao thông đường bộ, còn gây thiệt hại về sức khỏe tính mạng cho người khác. Tai nạn giao thông đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, gây nên tâm lý bất an lo lắng cho những người tham gia giao thông, hàng ngày chúng ta phải chứng kiến nhiều sinh mạng bị cướp đi bởi tai nạn giao thông. Trong khi toàn xã hội đang tìm giải pháp pháp để giảm thiểu những vụ tai nạn giao thông, nguyên nhân do ý thức của những người khi tham gia giao thông không tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh về luật giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, khi đi đến đoạn đường xã thuộc thôn T, xã X do H không chú ý quan sát, không giảm tốc độ theo quy định khi đi qua khu vực đang thi công trên đường bộ, do đường tối tầm nhìn bị hạn chế đồng thời Phạm Văn H đã điều khiển xe sang phần đường ngược chiều nên H đã gây tai nạn cho bà Trịnh Thị N hậu quả bà N chết. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải xử phạt theo quy định của pháp luật vừa có tác dụng răn đe đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện cho bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ rang, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách là đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại và đại diện cho bị hại không yêu cầu bồi thường gì về dân sự nữa nên HĐXX không xem xét là phù hợp.
[7] Về vật chứng của vụ án: Xét thấy không cần tịch thu giấy phép lái xe của bị cáo nên sẽ trả lại cho bị cáo 01 giấy phép xe số [...] mang tên Phạm Văn H.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H đã phạm tội ‘Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án 12/3/2025
Giao bị cáo Phạm Văn H cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo Phạm Văn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng; Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho Phạm Văn H 01 giấy phép xe số [...].
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM .HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ đã ký Phạm Ngọc Long |
Bản án số 12/2025/HSST ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 12/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
