Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN DƯƠNG KINH

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 11-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyến

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Anh

Bà Tạ Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hưng – Thư ký Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh tham gia phiên tòa:

Bà Đoàn Thị Lệ Thu– Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân quận Dương Kinh và điểm cầu thành phần Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2025/TLST- HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 và Thông báo số 110/TB-TA ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân Hải A, sinh ngày 19 tháng 4 năm 2006, tại Hải Phòng (tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là 17 năm, 05 tháng tuổi); nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H và bà Phạm Thị H1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 269/2024/HS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Xuân Hải A 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Hiếp dâm” và tội “Cướp tài sản”; bị tạm giữ từ ngày 24 tháng 9 năm 2024 đến ngày 27 tháng 9 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Chị Nguyễn Hà L, sinh năm 2005; địa chỉ: Đ, V, K, Hải Phòng, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Anh Nguyễn Thành L1, sinh năm 2002; địa chỉ: Số A H, Đ, H, Hải Phòng, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Chị Nguyễn Yến C1, điều vắng mặt; Anh Tạ Tuấn H2, anh Trần Tiến M, anh Đoàn Quốc C, chị Phạm Thị Yến C1, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ án thứ nhất:

Do có hẹn từ trước nên khoảng hơn 01 giờ ngày 05/9/2023, nhóm Nguyễn Xuân Hải A, Đồng Bảo K, Phạm Thành D và 04 nam thanh niên khác là bạn của A (chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ) rủ nhau mang theo hung khí đi từ đường V, Quận N sang địa bàn quận D để đánh nhau. Cả nhóm đi trên 03 xe mô tô, trong đó Đ chở K và A, K cầm theo 01 con dao dài khoảng 50 cm; 04 nam thanh niên còn lại đi trên 02 xe mô tô cầm theo 01 con dao dài khoảng 40 cm; 02 thanh sắt dài khoảng 02m, trong đó có 01 đầu vát nhọn. Khi đến chân C thuộc phường A, quận D, A xuống xe lấy nhiều vỏ chai bia thủy tinh ở quán đưa cho mọi người rồi cả nhóm tiếp tục đi trên đường P hướng về Đ, trên đường đi các đối tượng đã ném các vỏ chai bia xuống đường. Khi đi đến đoạn cây xăng S thuộc phường A cả nhóm vòng xe quay lại. A gọi điện cho bạn là Quang T (chưa xác định được đầy đủ họ tên và địa chỉ) hẹn gặp ở Cầu C để cùng đi đánh nhau, T đồng ý. Một lúc sau nhóm của A đến Cầu R gặp thầy Lê Phú Đ, Bạch Thế H3 và Quang T ở đó, cả nhóm lại quay về hướng Đ, 10 người đi trên 04 xe mô tô cầm theo hung khí để đi đánh nhau, trong đó H3 chở Quang T và Đ ngồi sau cùng cầm theo 01 con dao dài 80cm. Trên đường đi, H3 đưa cho A mượn bình xịt hơi cay của H3. Nhóm của A điều khiển xe tăng tốc chạy trước, khi đến ngã 3 đường P giao nhau với khu dự án nhà ở A, đối diện cây xăng S, phát hiện thấy 02 xe máy điện đi từ trong khu dự án nhà ở A ra đường P, nhóm của A dừng lại chặn đầu 02 xe máy điện của anh Trần Tiến M chở chị Nguyễn Hà L, anh Phạm Việt H4 chở anh Tạ Tuấn H2. Thấy đông người mang theo nhiều hung khí nên anh H2 hoảng sợ xuống xe bỏ chạy thì bị nhóm của A đuổi theo. Không đuổi được anh H2, nhóm của A quay lại vây xung quanh 02 chiếc xe điện của nhóm chị L, cùng lúc đó xe của Thế H3 cũng đến nơi. K và A xuống xe đến chỗ anh M và chị L đang ngồi trên xe điện, K một tay cầm dao, tay kia kéo M xuống xe, cùng lúc đó chị L cũng nhoài người xuống theo làm chiếc xe điện đổ xuống đường, từ trong cốp xe của chị L rơi ra 01 chiếc túi xách, 01 bộ bài tú lơ khơ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax. A bước đến dùng bình xịt hơi cay xịt thẳng vào mặt M, anh M bị đau mắt lấy hai tay che mặt. Anh H4 đứng gần cũng bị ảnh hưởng của hơi cay. Sau đó, A đến chỗ xe điện đổ cúi xuống lấy chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax của chị L rồi lên xe chở K đi về hướng Cầu R. Khi A lấy chiếc điện thoại di động của chị L thì Đ, D, H3 đều không biết. Thấy A và K lên xe đi về thì H3, Quang T, Đ, D và 04 thanh niên cũng lên xe rời khỏi hiện trường. Trên đường về A nói cho K biết vừa lấy được chiếc điện thoại di động và đưa cho K cầm. Một lúc sau cả nhóm tập trung ở đường V, A trả lại H3 bình xịt hơi cay và bảo tất cả thay đổi quần áo, thay đổi kết cấu xe mô tô và sau đó cả nhóm đi về. A và K đi về nhà trọ ở phường Đ, quận H, đến tối A và K mang

điện thoại sang huyện A bán cho một cửa hàng (không xác định được địa chỉ) với giá một triệu đồng.

Ngay sau khi nhóm của các bị cáo rời đi, chị L phát hiện mình bị mất điện thoại nên đã có đơn trình báo Công an phường A.

Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 06/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận D, kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax trị giá 7.800.000 đồng.

Hành vi phạm tội của Bạch Thế H3, Lê Phú Đ, Phạm Thành D đã bị xét xử theo Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh và Bản án hình sự phúc thẩm số 122/2024/HS-PT ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Đối với Đồng Bảo K, sinh ngày 13/12/2008 (tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 05/9/2023, K 14 tuổi 08 tháng 8 ngày), chưa đủ 16 tuổi nên chưa phải chịu trách nhiệm hình sự về tội nghiêm trọng (tội “Gây rối trật tự công cộng”). Do vậy ngày 02/4/2024 Công an quận D đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K về hành vi này.

Về tội “Cướp tài sản”, qua điều tra xác định K không đồng phạm với A về tội “Cướp tài sản” của chị L. Sau khi A chiếm đoạt tài sản của chị L thì K được biết và cùng A đi bán chiếc điện thoại lấy tiền tiêu xài, K có hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, “Không tố giác tội phạm” và theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự, K chưa phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Tuy nhiên đến nay đã hết thời hiệu xử phạt hành chính các hành vi này của K theo quy đinh tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính (thời hiệu xử phạt là 01 năm tính từ ngày 05/9/2023) nên Công an quận D không xử lý hành chính đối với Đồng Bảo K về các hành vi trên.

Ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 05/9/2023, Nguyễn Xuân Hải A đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra Công an quận D đã ra Quyết định truy nã số 263/QĐTN- CQĐT(HS) ngày 02/4/2024 và Quyết định tách vụ án hình sự số 264/QĐ-CQĐT, ngày 02/4/2024 về tội “Cướp tài sản” đối với Nguyễn Xuân Hải A.

Trong vụ án này, bị hại là chị Nguyễn Hà L yêu cầu bị cáo Nguyễn Xuân H An bồi thường 7.800.000 đồng là giá trị chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax của chị L do bị cáo chiếm đoạ nhưng bị cáo chưa bồi thường.

Vụ án thứ hai:

Khoảng 01 giờ sáng ngày 13/9/2023, Nguyễn Xuân H A cùng Đồng Bảo K đang ở nhà trọ tại số C L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thì có một người bạn của A tên T (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến rủ A và K đi chơi. T đưa xe mô tô AirBlade (không nhớ biển kiểm soát) cho K tự đi còn T ngồi sau xe mô tô A1 (không nhớ biển kiểm soát) do A điều khiển. Khi cả ba đi đến khu vực số F đường B, phường Đ, N, Hải Phòng thì T xuống xe lấy 01 con đao bằng kim loại dài khoảng 80cm đã giấu trước đó ở gốc cây để cất vào cốp xe của A, đồng thời T gọi điện thoại cho bạn của T (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến để cùng tham gia.

Một lúc sau bạn của T đi xe mô tô Airblade màu đỏ đến, cả nhóm đi từ đường B ra đường N để đến chân cầu A đón thêm một người bạn của T (hiện cũng chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Khi nhóm A đi đến khu vực gầm cầu vượt L3 thì gặp Trịnh Tiến L2, Đinh Văn D1, Lâm Xuân C2 đang ngồi uống nước tại gầm cầu. Nhìn thấy nhóm của A đi ngang qua, L2 gọi điện cho A hẹn quay lại gầm cầu L để nhóm L2 đi cùng, A đồng ý. Sau khi nhóm A đến gầm cầu An D2 đón được một người bạn của T xong thì cả nhóm quay lại gầm cầu L nhập nhóm với L2. Hai nhóm gồm 08 người đi trên 04 xe mô tô gồm: A chở T, K chở L2, D1 chở C2 bằng xe Wave còn hai người bạn của T đi xe mô tô Airblade màu đỏ. Khi cả nhóm đi đến khu vực gầm cầu R, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng thì dừng lại, những người ngồi sau xuống xe nhặt các chai thủy tinh cầm theo mục đích nếu gặp nhóm thanh niên khác thì sẽ đánh nhau. N lúc dừng xe T lấy con đao trong cốp xe của A đưa cho L2 cầm. Cả nhóm tiếp tục điều khiển xe đi với tốc độ cao trên đường P theo hướng từ Cầu R ra Đ. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày khi cả nhóm đi đến khu vực phường A, quận D thấy anh Nguyễn Thành L1 (sinh năm 2001, địa chỉ: số A H, Đ, H, Hải Phòng) điều khiển xe mô tô AirBlade biển kiểm soát 15B2-993.34 đi ngược chiều (hướng từ Đ về Cầu R), K nói “Thằng kia kìa” thì cả nhóm A quay xe lại đuổi theo xe anh L1. Xe của A và T đi đầu tiên, tiếp theo xe của K và L2 rồi đến xe hai bạn của T, cuối cùng xe của D1 và C2. Anh L1 thấy nhóm A đuổi theo nên tăng ga bỏ chạy về hướng Lạch Tray rẽ vào đường N. K và L2 đuổi theo phía sau mỗi người cầm 01 vỏ chai thủy tinh ném về phía anh L1. Khi anh L1 chạy đến trước số nhà C đường N thì xe anh L1 bị ngã ra đường. Lúc này xe của A, T, K và L2 đuổi đến nơi. Cả hai xe lượn vòng quanh xe của anh L1. Anh L1 sợ hãi bỏ xe mô tô lại trèo qua dải phân cách, chạy sang bên kia đường, vừa chạy vừa hô “Cướp, cướp”. L2 xuống xe cầm đao đuổi theo anh L1 nhưng không đuổi được nên quay lại, lúc này xe do hai người bạn của T điều khiển cũng đuổi đến nơi. K nảy sinh ý định cướp tài sản của anh L1 nên bảo L2 “Lấy xe đi”, L2 chưa có hành động gì thì K xuống xe lấy đao từ tay L2 và nhường tay lái điều khiển xe cho L2, L2 điều khiển xe đi. K tay vừa cầm đao, vừa dựng xe mô tô của anh L1 lên rồi điều khiển xe mô tô của anh L1 đi cùng A, T, L2 và hai người bạn của T chạy về hướng cầu vượt Big C. D1 và C2 đi sau, khi đến nơi thấy K tay cầm đao và đi xe của anh L1, D1 và C2 hoảng sợ nên tách ra chạy đường khác về khu chợ L4, Đ, H, Hải Phòng. Trên đường đi D1 nói với C2 “ Hay là ra Công an trình bày đi” thì C2 bảo “cứ từ từ xem như nào đã”. Sau đó D1 và C2 quay lại chỗ K vừa lấy xe thì thấy xe anh L1 đang đựng ở lề đường Nguyễn Bỉnh K1, D1 và C2 đi vào quán Internet nhắn tin cho L2 hỏi “Thế cướp xe thật à” thì L2 trả lời “Lấy mỗi tiền thôi xe trả lại” nên D1, C2 đi về.

Sau khi K lấy được xe mô tô của anh L1 cùng A, L2, T và hai người bạn của T đi đến cầu vượt B C thì L2 và A bảo K mang xe quay lại trả. K điều khiển xe mô tô của anh L1 cùng cả nhóm quay lại đường N, K dựng xe mô tô của anh L1 sát lề đường trước cửa số 370 N. K mở cốp xe anh L1 lấy 01 ví da màu đen rồi đóng cốp xe lại, lên xe của L2 điều khiển bỏ chạy về hướng ngã ba N-Đ. Trên đường đi K kiểm tra trong ví có 6.000.000 đồng, K đưa cho hai bạn của T 200.000 đồng, hai người bạn

của T cầm tiền xong đi về còn K, L2, T, A tiếp tục đi cùng nhau về phía cảng Đ. K đã vứt con đao trên đường đi. Sau đó cả nhóm dừng lại trên đầu đường C-Hà Nội cùng nhau đốt ví và giấy tờ tùy thân của anh L1, chỉ giữ lại tiền. Trên đường về đến đường N, K đưa cho L2 1.000.000 đồng để bắt tacxi về, số tiền còn lại K quản lý và cùng A, T chi tiêu cá nhân hết. Cùng ngày anh L1 đến Cơ quan Công an trình báo và giao nộp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15B2-993.34.

Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HDĐGTS ngày 28/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 15B2-993.34 có giá trị 25.000.000 đồng.

Hành vi phạm tội của Đồng Bảo K, Trịnh Tiến L2, Đinh Văn D1, Lâm Xuân C2 vào ngày 13/9/2023 đã được xét xử theo Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2024/HS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền đối với Đồng Bảo K, Trịnh Tiến L2 về tội “Cướp tài sản” theo khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự và Đinh Văn D1, Lâm Xuân C2 về tội “Không tố giác tội phạm” theo khoản 1 Điều 390 Bộ luật Hình sự.

Nguyễn Xuân Hải A sau khi phạm tội bỏ trốn nên ngày 31/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận N ra Quyết định truy nã số 331/QĐTN- ĐCSHS và ra Quyết định tách vụ án hình sự số 348/QĐ-ĐCSHS ngày 01/02/2024 đối với Nguyễn Xuân Hải A. Đến ngày 24/9/2024 A bị bắt theo quyết định truy nã.

Ngày 06/12/2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền đã ra Quyết định chuyển vụ án hình sự số 01/ QĐ-VKSNQ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D giải quyết vụ án theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Xuân Hải A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Vật chứng vụ án: Xe mô tô biển kiểm soát 15B - 993.34, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là của bà Nguyễn Thị T1 (mẹ anh L1) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận N đã trả lại bà T1. Đồng thời anh L1 cũng không còn yêu cầu gì về phần dân sự đối với Nguyễn Xuân Hải A. Hung khí các đối tượng sử dụng đã vứt trên đường đi nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Tại Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 14/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Hải A về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đồng thời tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh trình bày lời luận tội: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo, đã giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56, Điều 91, Điều 103 Bộ luật Hình, Điều 119, Điều 121,

Điều 122 Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59 ngày 30/11/2024 của Quốc hội, đề nghị xét xử bị cáo mức án từ 08 đến 09 năm tù giam về tội Cướp tài sản. Tổng hợp hình phạt 16 năm 06 tháng tù tại Bản án số 269 ngày 24/12/2024 của Tòa án thành phố Hải Phòng buộc bị cáo chấp hành hình phạt của hai bản là từ 24 năm 06 tháng đến 25 năm 06 tháng. Tuy nhiên bị cáo khi phạm tội đủ 16 tuổi nhưng dưới 18 tuổi nên mức hình phạt chung của hai bản án đều là tù có thời hạn và tổng hợp hình phạt chung là tù có thời hạn đối với bị cáo là 18 năm tù (không quá 18 năm) thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2024. Về dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Xuân Hải A phải bồi thường cho chị Nguyễn Hà L 7.800.000 đồng là giá trị chiếc điện thoại của chị L do bị cáo chiếm đoạt, đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến bào chữa của bị cáo: Không tranh luận về căn cứ pháp luật được áp dụng, tội danh và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an, Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh và Quận N, thành phố Hải Phòng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của bị hại, những người làm chứng tại phiên tòa nhưng họ đều đã có lời khai trong quá trình điều tra, những lời khai này đã được Cơ quan điều tra thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về nội dung:

[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và các bị cáo khác tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận như sau: Lần thứ nhất, vào khoảng 02 giờ ngày 05/9/2023, trên trục đường Phạm Văn Đ1 theo hướng từ Cầu R đi Đ, tại ngã ba giao nhau giữa đường P và đường vào khu dự án đô thị A, thuộc địa phận tổ dân phố T, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Xuân Hải A và một số đối tượng khác đã có hành vi chặn xe, đe dọa nhóm của chị L. Sau đó A dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt anh Trần Tiến M nhằm chiếm đoạt 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax trị giá 7.800.000 đồng của chị Nguyễn Hà L. Lần thứ hai: Vào rạng sáng ngày 13/9/2023, tại trước cửa

số C Đường N, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Xuân Hải A cùng đồng phạm có hành vi sử dụng đao, vỏ chai bia thủy tinh ném, đuổi chém, đe dọa anh Nguyễn Thành L1 nhằm chiếm đoạt 01 xe mô tô biển kiểm soát 15B2-993.34 trị giá 25.000.000 đồng cùng số tiền mặt có trong ví là 6.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản và tiền các bị cáo chiếm đoạt của anh L1 là 31.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân H A cấu thành tội “Cướp tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản,..

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;”

Và như vậy, Cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 14/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Xuân Hải A là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Lần thứ nhất, vào khoảng 02 giờ ngày 05/9/2023, tại địa phận tổ dân phố T, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Hà L. Lần thứ hai là vào rạng sáng ngày 13/9/2023, tại trước cửa số C Đường N, phường Đ, Quận N, thành phố Hải Phòng, bị cáo chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Thành L1 nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Xuân Hải A là người có nhân thân xấu. Mặc dù bị cáo đang chấp hành hình phạt tù 16 năm 06 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 269/2024/HS-ST ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng về tội “Hiếp dâm” và “Cướp tài sản”, tuy nhiên đây là bản án có hiệu lực pháp luật sau khi bị cáo thực hiện 02 hành vi chiếm đoạt tài sản bị xét xử trong vụ án này nên không xác định để tính tái phạm đối với bị cáo. Hơn nữa, sau khi thực hiện các hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Xuân Hải A đã bỏ trốn một thời gian dài và sau đó bị bắt theo lệnh truy nã, gây nhiều khó khăn, trở ngại cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

[7] Về vai trò của bị cáo trong vụ án:

Mặc dù tại phiên tòa này chỉ xét xử bị cáo Nguyễn Xuân H A về tội “Cướp tài sản” và các bị cáo khác trong cùng vụ án đã bị xét xử trước đó theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên vẫn cần phải xác định đây là vụ án đồng phạm và cần phải

phân hóa rõ vai trò của bị cáo để làm cơ sở cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều không có sự bàn bạc cụ thể trong việc chiếm đoạt tài sản của bị hại nên xác định đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, không có tổ chức. Qua hai lần bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại, đều thể hiện bị cáo là người chủ động, tích cực, quyết liệt, giữ vai trò chính trong việc chiếm tài sản của các bị hại. Do vậy hình phạt áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Xuân Hải A cũng phải tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

[8] Về hình phạt đối với các bị cáo: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội địa phương và gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do vậy căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, xử phạt bị cáo trong mức của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự và như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời vừa thể hiện tính nghiêm minh, vừa thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[9] Về hình phạt bổ sung đối với bị cáo: Khi thực hiện các hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên. Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[10] Về dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Hà L yêu cầu bị cáo Nguyễn Xuân H An bồi thường 7.800.000 đồng là giá trị chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax của chị L do bị cáo chiếm đoạt là có căn cứ và cần được chấp nhận. Bị cáo cũng đồng ý với yêu cầu này của chị L. Do vậy căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 589 của Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Nguyễn Xuân H A phải bồi thường cho chị L số tiền trên. Xe mô tô biển kiểm soát 15B2993.34, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là của mẹ anh L1 - bà Nguyễn Thị T1Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N trả lại cho bà T1 phù hợp với quy định của pháp luật. Đồng thời anh L1 không còn yêu cầu gì về phần dân sự đối với Nguyễn Xuân Hải A Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Về hành vi của T, L2 04 đối tượng là bạn của A tham gia trong vụ việc nhưng quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của những người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D quyết định tách vụ án hình sự số 1067 ngày 27/12/2024 để tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

[12] Về việc xử lý vật chứng: Đối với những công cụ là đao, vỏ chai thủy tinh và hung khí khác, các đối tượng mang theo nhưng đã vứt đi, không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[13] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại được quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và mức hình phạt:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 91 của Bộ luật Hình sự, Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên, tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Hải A phạm tội “Cướp tài sản”, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Hải A 08 (tám) năm tù.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56, Điều 103, Điều 104 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù theo Bản án hình sự số 269/2024/HS-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Xuân Hải A tội “Hiếp dâm” và tội “Cướp tài sản”, tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án buộc bị cáo Nguyễn Xuân Hải A phải chấp hành là 18 (mười tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 24 tháng 9 năm 2024.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Xuân Hải Aải bồi thường cho chị Nguyễn Hà L 7.800.000đ (bẩy triệu, tám trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền trên mà người phải thi hành chưa thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Hải Aải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 390.000đ (ba trăm chín mươi nghìn đồng) án phí

dân sự sơ thẩm. Tổng số tiền án phí sơ thẩm mà bị cáo Nguyễn Xuân Hải Aải nộp 590.000đ (năm trăm chín mươi nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Các bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - PV 06; PC10 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - VKSND Dương Kinh;
  • - VKSND Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS Dương Kinh;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Duyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự về tội "cướp tài sản"

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Cướp tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 2025.03.11. BA12 HS Nguyễn Xuân Hải A - Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger