TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI Bản án số: 12/2025/HNGĐ - ST Ngày: 10/3/2025 V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn và Ông Đặng Viết Côi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Gia Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 388/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST – HNGĐ ngày 21/02/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L - sinh năm: 1989
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H - sinh năm: 1986 (Vắng mặt)
Đều HKTT: thôn T, xã M, huyện Ứ, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn ly hôn, biên bản lấy lời khai chị Phạm Thị L là nguyên đơn trình bày: chị kết hôn với anh Nguyễn Văn H - sinh năm: 1986, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, năm 2007. Sau khi kết hôn vợ chồng hòa thuận, hành phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân là anh H thường xuyên chơi bời, rượu chè, cờ bạc, không chịu làm ăn, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Nhiều khi anh còn đánh chửi chị vô cớ, chị thấy rất mệt mỏi và áp lực. Cuộc sống vợ chồng không hoà thuận nhiều năm nhưng chị cũng cố gắng hoà giải, khuyên can để các con có gia đình vẹn tròn nhưng tình trạng vợ chồng không thay đổi. Nay các con cũng đã lớn, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, cuộc sống chung quá mệt mỏi áp lực nên mong muốn được ly hôn.
Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hữu N – sinh ngày: 12/6/2008; Nguyễn Hoàng Chí T – sinh ngày: 25/10/2011. Lúc đầu chị xin được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, các con đã lớn, chị tôn trọng quyết định của con nên chị xin nuôi cháu Chí T; còn cháu Hữu N ở với anh H. Chị không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công sức, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: chị L đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa làm việc. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh. Tuy nhiên, anh H vẫn không đến Tòa án làm việc do đó không có quan điểm trình bày.
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xã M xác định: chị L và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, ngày 15/01/2007. Sau khi kết hôn, cuộc sống của anh chị hòa thuận không thấy điều tiếng gì. Theo nắm bắt tại địa phương thì thời gian gần đây, anh H và chị Lê X ra mâu thuẫn nguyên nhân cụ thể là gì thì địa phương không nắm rõ. Trong thời gian chung sống: anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Hữu N – sinh ngày: 12/6/2008 và cháu Nguyễn Hoàng Chí T – sinh ngày: 25/10/2011. Quan điểm của chính quyền địa phương: đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và con nhỏ.
Tại phiên toà, chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác. Anh H vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Viện kiểm sát về thủ tục tố tụng: Qua việc kiểm sát hồ sơ và tại phiên tòa thấy đều đúng và đầy đủ về quan hệ pháp luật, về thẩm quyền, về người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng, việc thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản, thời hạn chuẩn bị xét xử, đưa vụ án ra xét xử. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L và anh H. Về con chung: giao chị Lê trực T1 nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Chí T; Giao anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Hữu N. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với các bên đương sự; Về tài sản, công sức, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết. Chị Lê P chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị L đã làm đơn ly hôn theo mẫu và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hõa phiên tòa, triệu tập anh Nguyễn Văn H đến toà án làm việc theo đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà hôm nay, chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa xét xử nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.
[2] Về hôn nhân: chị L và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống chung của anh chị không hòa thuận, hạnh phúc. Nguyên nhân theo chị L trình bày là anh H không tu trí làm ăn, ham chơi, không quan tâm đến gia đình, vợ con và đôi khi còn đánh chị vô cớ. Nay chị Lê N1 thấy không còn tình cảm với anh H nên đã làm đơn xin ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống hôn nhân của anh chị không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị L là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
[3] Về con chung: anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Hữu N – sinh ngày: 12/6/2008 và Nguyễn Hoàng Chí T – sinh ngày: 25/10/2011. Chị L có nguyện vọng nuôi cháu Chí T, cháu Hữu N có nguyện vọng ở với bố H; cháu Trí T2 có quan điểm xin ở với mẹ. Xét nguyện vọng của các đương sự, tình hình thực tế cuộc sống của các con nhận thấy, giao chị Lê trực T1 nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Chí T; Giao anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hữu N là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê K yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con, anh H không có quan điểm trình bày. Do đó, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với các đương sự.
Về quyền thăm hỏi con chung: các bên có quyền thăm hỏi con chung theo quy định của pháp luật mà không ai có quyền ngăn cản.
[4] Về tài sản, công sức và công nợ: Chị L trình bày là không có gì, không đề nghị Tòa án giải quyết; anh H không có quan điểm trình bày nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Trường hợp nếu sau này các đương sự có yêu cầu, đề nghị thì sẽ giải quyết tại vụ án khác.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị L phải nộp toàn bộ án phí ly hôn theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L:
- Chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn H;
- Về con chung: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn H có 02 con chung là cháu Nguyễn Hữu N – sinh ngày: 12/6/2008 và cháu Nguyễn Hoàng Chí T – sinh ngày: 25/10/2011. Khi ly hôn, giao chị Lê trực T1 nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Chí T; Giao anh H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục cháu Hữu N cho đến khi con chung trưởng thành, khỏe mạnh hoặc khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị L và anh H cho đến khi con chung trưởng thành, khỏe mạnh hoặc khi có sự thay đổi khác.
Về quyền thăm hỏi con chung: “Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con."
“Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”
- Về tài sản, công sức, công nợ chung: Chị Lê K yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Trường hợp sau này, các đương sự có yêu cầu, đề nghị thì sẽ giải quyết tại vụ án khác.
- Về án phí: Chị Lê phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp tại Biên lai thu số 0012079 ngày 05/12/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Minh |
Bản án số 12/2025/HNGĐ - ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L với anh H
