Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày: 19/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Nhật Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Mạnh Cường, và bà Bùi Thị Qua.

- Thư ký phiên toà: Bà Lộc Hồng Nhung – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Vi Đức Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại Phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 08/11/2024, đối với các bị cáo:

  1. Lê Văn T, sinh ngày 10/01/1975 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi tạm trú: thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M và bà Mai Thị M1; Vợ: Nguyễn Thị K, bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại; Có mặt tại phiên tòa.
  2. Đoàn Văn U, sinh ngày 16/5/1984 tại huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn C và bà Đào Thị T1; Vợ: Nguyễn Thị O, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, hiện tại ngoại; Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Các bị cáo Lê Văn T, Đoàn Văn U cũng đồng thời đều là bị hại trong vụ án.

- Người làm chứng:

  • Anh Phạm Viết Hoàng 01, sinh năm 1997; Nơi cư trú: thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
  • Ông Hoàng Văn T2, sinh năm 1962; Nơi cư trú: thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
  • Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Tổ G, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 5 giờ sáng ngày 10/6/2024, Đoàn Văn U thấy ruộng lúa của nhà mình tại thôn H, xã Đ, huyện T bị ngập nước nên mang lưới ra khu vực giáp ranh giữa ruộng lúa với hồ nuôi cá của anh Nguyễn Văn T3 (ở cùng thôn H) không có bờ và rào ngăn cách, để giăng bắt cá thì bị Lê Văn T là người được anh T3 thuê trông coi hồ nuôi cá đi thuyền đến kiểm tra phát hiện nên đã kéo lưới của U lên thuyền. Thấy T kéo lưới bắt cá của mình, U đến ngăn cản dẫn đến hai bên xảy ra xô sát, cãi chửi nhau. Trong quá trình xô sát U bị T sử dụng thanh kim loại (dạng hộp kẽm) trên thuyền đánh nhiều nhát vào vùng đầu, tay, vai, lưng gây thương tích; T cũng bị U dùng 01 đoạn gậy bằng tre đánh nhiều nhát vào đầu, tay, chân gây thương tích.

Tại Kết luận giám tổn thương cơ thể trên người sống số 736/KLTTCT-TTPY ngày 9/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q, kết luận: Chấn thương phần mềm vùng thái dương trái; vùng lưng; 1/3 dưới cẳng mặt sau cẳng tay trái; 1/3 trên mặt ngoài đùi trái hiện tại không để lại dấu vết bên ngoài, không để lại di chứng: 0%. Vết biến đổi rối loạn sắc tố da mặt sau vai trái kích thước (04x02)cm: 01%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đoàn Văn U tại thời điểm giám định là: 01% (một phần trăm).

Tại Kết luận giám tổn thương cơ thể trên người sống số 790/KLTTCT-TTPY ngày 23/8/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q, kết luận: Sẹo vết thương phần mềm nằm dọc 1/3 giữa mặt trước cẳng chân trái kích thước nhỏ: 01%. Chấn thương sưng nề phần mềm vùng ngực phải; cẳng tay phải; khuỷu tay trái; bàn tay trái; 1/3 giữa mặt trong cẳng chân trái, hiện tại đã khỏi, không để lại dấu vết bên ngoài, không để lại di chứng: 0%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn T tại thời điểm giám định là: 01% (một phần trăm).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Đoàn Văn U và Lê Văn T đều khai nhận hành vi đã thực hiện như nêu trên. Ngoài ra, U còn khai: khi thấy T kéo lưới của mình lên thuyền thì U đi ra để lấy lưới lại nên bị T từ thuyền nhảy xuống cầm gậy bằng kim loại đánh nhiều nhát vào vùng đầu, tay, vai, lưng và đấm một cái vào mặt U nên U đã lấy 01 đoạn tre khô của người dân cắm ở ruộng để đánh lại nhưng bị gãy nên bỏ chạy, sau đó U đến Trung tâm Y tế huyện T để điều trị thương tích. Còn T khai; khi T đang thu lưới thì bị U cầm 01 cái xẻng có cán bằng tre xông đến chửi bới và đánh nhiều nhát vào đầu, tay, chân nên T nhảy xuống, cầm đoạn gậy bằng kim loại trên thuyền đánh lại vào người U. Sau đó U bỏ chạy, T đến Bệnh viện Đ để điều trị thương tích. Đoàn Văn U và Lê Văn T đều có đơn yêu cầu khởi tố về hình sự.

Về vật chứng, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 đoạn gậy bằng kim loại, dạng hình hộp rỗng, dài 75cm, tiết diện vuông cạnh 1,8cm; 01 đoạn gậy bằng tre dài 1,6m, 01 lưỡi xẻng bằng sắt; 01 đoạn lưới treo đã qua sử dụng dài 8m; 01 chiếc mũ cối đã qua sử dụng, bị nứt khoảng 7cm ở mặt trong của mũ; các đồ vật trên đã được chuyển Cơ quan thi hành án dân sự chờ xử lý. Đối với đoạn tre khô dài hơn 01m mà Đoàn Văn U khai sử dụng để đánh T bị vỡ nên bỏ lại hiện trường, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.

Về dân sự: Đoàn Văn U và Lê Văn T đều yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000đ chi phí điều trị thương tích, tổn thất tinh thần, nhưng chưa bên nào bồi thường.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo Đoàn Văn U khai: Sáng ngày 10/6/2024, bị cáo ra kiểm tra ruộng của gia đình thì thấy nước ngập và có cá bơi ở ruộng nên bị cáo về nhà lấy 01 treo lưới mang ra ruộng của gia đình bị cáo thả lưới trên ruộng để bắt cá, sau đó bị cáo đi về nhà; Lúc sau bị cáo quay ra thì thấy Lê Văn T là người trông coi thuê hồ cá cho ông T3 (là người có hồ nuôi thả cá giáp ranh với ruộng của nhà bị cáo), thấy T đang kéo thu lưới thì bị cáo ra ngăn cản nói là không được thu lưới và kéo giằng lưới lại, hai bên xảy ra cự cãi, chửi nhau, T dùng một thanh sắt có ở trên thuyền đánh bị cáo, bị cáo bỏ chạy được khoảng 2 – 3 mét thì thấy cây cọc bằng tre cắm ở ruộng liền nhặt lên quay lại đánh lại T, hai bên đánh nhau, T dùng gậy sắt đánh bị cáo, bị cáo dùng gậy tre đánh lại T; sau đó gậy tre của bị cáo bị vợ, bị cáo bỏ chạy về nhà rồi đến bệnh viện T4 để chữa trị vết thương và ra cơ quan Công an trình báo sự việc.
  • Bị cáo Lê Văn T khai: Sáng 10/6/2024, bị cáo đi thuyền kiểm tra khu vực quanh hồ thả cá thì thấy lưới thả dưới hồ nên bị cáo thu lưới lên thuyền; khi đang thu lưới thì bị cáo thấy Đoàn Văn U cầm xẻng chạy ra chửi bới, giằng kéo lưới lại và dùng xẻng đánh bị cáo; bị cáo tức giận nên vớ lấy thanh gậy sắt (dạng hộp) sẵn có ở trên thuyền nhảy xuống chạy lên ruộng và xô sát đánh nhau với Đoàn Văn U, bị cáo dùng thanh sắt hộp vụt vào người U, đồng thời cũng bị U dùng cây tre đánh nhiều nhát vào người bị cáo; sau khi gậy tre của U bị vỡ thì U bỏ chạy, bị cáo T thu lưới mang về chòi, và sau đó đi đến bệnh viện Đ điều trị thương tích.

Tại Bản cáo trạng số: 1234/CT-VKS ngày 06/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên đã truy tố Lê Văn T, Đoàn Văn U về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T, Đoàn Văn U phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo, xử phạt Lê Văn T, Đoàn Văn U mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo T, U cho UBND xã Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Về bồi thường dân sự, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị cáo T và bị cáo U, xác định chi phí bồi thường thiệt hại gồm các khoản chi phí hợp lý cho việc chữa trị thương tích, bồi dưỡng sức khỏe, công người chăm sóc, tiền mất thu nhập của bị hại, tính toán xác định theo quy định của pháp luật; đối trừ các khoản chi phí phải bồi thường, bị cáo U phải bồi thường cho bị cáo T số tiền là 154.000đ (Một trăm năm mươi tư nghìn đồng).

Về vật chứng, Kiểm sát viên đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cây gậy hộp kẽm, 01 cái xẻng bằng sắt có cán là gỗ tre dài 1,6m; đối với 01 chiếc mũ cối, 01 treo lưới dài khoảng 8m, bị rách, đã qua sử dụng, đề nghị trả lại cho các chủ sở hữu.

Bị cáo Lê Văn T không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Đoàn Văn U tranh luận: Bị cáo U không đồng tình với quan điểm của Viện kiểm sát, bị cáo chỉ bảo vệ tài sản của mình (là lưới của bị cáo); bị cáo mong muốn các cơ quan pháp luật làm rõ nguyên nhân xảy ra đánh nhau, xác định là do T đã thu lưới của bị cáo, bị cáo T đi vào đất ruộng nhà bị cáo, còn đánh bị cáo, không bồi thường cũng không thăm hỏi gì bị cáo. Bị cáo cũng biết hành vi đánh nhau của mình là sai phạm, bị cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật, ai sai đến đâu thì phải chịu trách nhiệm đến đó.

Tại phần tranh luận, những người tham gia tố tụng tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đưa ra quan điểm đối đáp, các bên đều giữ nguyên ý kiến như đã trình bày.

Hai bị cáo nói lời sau cùng, tỏ ra ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo T cam kết sẽ không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; cả hai bị cáo cũng đồng thời là bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì khác về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T và bị cáo Đoàn Văn U khai nhận cơ bản phù hợp với nhau, đều có nội dung: Do nước ngập dâng cao nên Đoàn Văn U đã thả lưới để bắt cá tại khu vực giáp ranh giữa ruộng của nhà bị cáo U và hồ nuôi cá của anh T3 (do bị cáo T được anh T3 thuê trông coi), T đi kiểm tra thấy lưới thì kéo lên thuyền, U đi tới ngăn cản và kéo lại lưới thì hai bên xảy ra giằng co, cãi lộn, xô sát với nhau; quá trình xô sát T đã dùng thanh hộp kim loại đánh nhiều nhát vào người U gây thương tích, U cũng dùng gậy tre đánh nhiều nhát vào người T gây thương tích.

Lời khai của các bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ và bản ảnh; kết luận giám định tổn thương cơ thể của các bị hại (cũng là hai bị cáo); phù hợp với lời khai của người làm chứng, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 5 giờ 15 phút ngày 10/6/2024, tại thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh, do mâu thuẫn trong việc đánh bắt cá nên Lê Văn T và Đoàn Văn U đã có hành vi xô sát, đánh nhau. T sử dụng 01 thanh kim loại dài 75cm đánh vào vùng đầu, tay, vai, lưng của U gây thương tích tổn hại 01% sức khỏe; U sử dụng 01 đoạn gậy bằng tre dài hơn 1 mét đánh vào đầu, tay, chân của T gây thương tích tổn hại 01% sức khỏe.

Hành vi của Lê Văn T và hành vi của Đoàn Văn U đều đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Nội dung truy tố tại bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên, và phần luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Các bị cáo đều là người trưởng thành có đầy đủ khả năng nhận thức, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do ý thức kém, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống hằng ngày, trong tình huống có nhiều lựa chọn xử sự nhưng các bị cáo sẵn sàng sử dụng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn, dùng gậy thép hộp, gậy tre là các hung khí nguy hiểm đánh nhau gây thương tích. Hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm, bảo đảm công tác giáo dục và phòng ngừa.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: không có.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Văn T có bố mẹ đẻ có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương, Bằng khen; bị cáo Đoàn Văn U có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương trong kháng chiến chống Mỹ, nên hai bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt, xét thấy các bị cáo đều phạm tội lần đầu, tội ít nghiêm trọng, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, thương tích gây ra cho nhau không lớn (chỉ 01%); xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền nơi cư trú, cũng đảm bảo công tác giáo dục và phòng ngừa.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, nên chấp nhận.

[4] Về yêu cầu bồi thường thiệt hại:

Cả hai bị cáo đều là bị hại, đều đưa ra yêu cầu bồi thường với số tiền là 20.000.000đ, đều không có đầy đủ căn cứ để chứng minh; bị cáo U nằm viện điều trị 04 ngày, bị cáo T nằm viện 08 ngày, cả hai đều có bệnh án ngoại khoa, nhưng không xuất trình được hóa đơn, chứng từ về chi phí điều trị thương tích. Các khoản có hóa đơn: bị cáo T chỉ xuất trình được 01 hóa đơn với chi phí 200.000đ; bị cáo U giao nộp 02 hóa đơn với chi phí là: 200.000đ + 1.645.573đ = 1.845.573đ; cả 02 bị cáo đều nêu số tiền yêu cầu bồi thường là 20.000.000đ, nhưng không kèm theo đầy đủ tài liệu để chứng minh.

Tại phiên tòa, bị cáo U và bị cáo T cũng không nêu ra chi tiết các khoản yêu cầu bồi thường cụ thể, không xuất trình được thêm tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho yêu cầu của mình.

Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự, trong vụ án này cả hai bị cáo đều xâm phạm sức khỏe của người còn lại, cả hai đều là bị hại, tỷ lệ tổn hại cơ thể là ngang nhau (đều là 01% sức khỏe). Chi phí hợp lý cho việc chữa trị thương tích, chi phí khám chữa bệnh, tiền mua thuốc (các khoản có hóa đơn, chứng từ) do bị cáo U xuất trình là 1.845.573đ lớn hơn chi phí (có hóa đơn) 200.000đ của bị cáo T, nhưng thời gian nằm viện điều trị của bị cáo T lại dài hơn thời gian bị cáo U nằm viện.

Căn cứ vào các nội dung nêu trên, việc xác định các khoản chi phí phải bồi thường trên cơ sở xem xét các thành tố: Chi phí hợp lý cho việc chữa trị thương tích, chi phí khám chữa bệnh, tiền mua thuốc, chi phí đi lại (các khoản có hóa đơn, chứng từ); Chi phí bồi dưỡng sức khỏe của người bị thiệt hại (01 ngày khám, chữa bệnh, chi phí tính bằng 01 ngày tiền công lao động); Thu nhập thực tế bị mất của người bị hại, người chăm sóc trong thời gian điều trị; Khoản bù đắp tổn thất về tinh thần.

Xét thấy, yêu cầu của Đoàn Văn U, Lê Văn T không có căn cứ để chấp nhận toàn bộ, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần, cụ thể như sau:

[4.1] Đối với thương tích của Đoàn Văn U:

  • - Chi phí hợp lý cho việc chữa trị thương tích, chi phí khám chữa bệnh, tiền mua thuốc (các khoản có hóa đơn, chứng từ): 1.845.573đ;
  • - Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại [01 ngày khám, chữa bệnh, chi phí bằng 01 ngày lương tối thiểu vùng với mức lương tối thiểu Vùng 3 – thị trấn T (3.860.000đ/tháng chia cho 26 ngày ‘làm tròn' = 150.000đ/ ngày) theo Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ], với số ngày U nằm viện là 04 ngày: 150.000đ/1 ngày x 04 ngày = 600.000đ;
  • - Thu nhập thực tế bị mất của bị hại trong thời gian điều trị từ ngày 10/6/2024 đến ngày 13/6/2024 là 04 ngày, với mức tiền công lao động là 150.000đ/ ngày: 150.000đ/1 ngày x 04 ngày = 600.000đ;
  • - Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc (01 người) trong thời gian điều trị 04 ngày, với ngày công lao động là 150.000đ/ 1 ngày: 150.000đ/ 1 ngày x 04 ngày = 600.000đ;
  • - Thiệt hại về tinh thần với khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là 03 lần mức lương cơ sở (2.340.000đ/tháng theo Nghị định 73/2024/NĐ-CP30/6/2024): 2.340.000₫ x 03 = 7.020.000đ;
  • Tổng cộng các khoản (làm tròn) là: 10.666.000đ (Mười triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

[4.2] Đối với thương tích của Lê Văn T:

  • - Chi phí hợp lý cho việc chữa trị thương tích, chi phí khám chữa bệnh, tiền mua thuốc (các khoản có hóa đơn, chứng từ): 200.000đ;
  • - Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại [01 ngày khám, chữa bệnh, chi phí bằng 01 ngày lương tối thiểu vùng với mức lương tối thiểu Vùng 3 – thị trấn T (3.860.000đ/tháng chia cho 26 ngày ‘làm tròn' = 150.000đ/ ngày) theo Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ], với số ngày T nằm viện là 08 ngày: 150.000đ/1 ngày x 8 ngày = 1.200.000đ;
  • - Thu nhập thực tế bị mất của bị hại trong thời gian điều trị từ ngày 10/6/2024 đến ngày 17/6/2024 là 08 ngày, với mức tiền công lao động là 150.000đ/ ngày: 150.000đ/1 ngày x 8 ngày = 1.200.000đ;
  • - Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc (01 người) trong thời gian điều trị 08 ngày, với ngày công lao động là 150.000đ/ 1 ngày: 150.000đ/ 1 ngày x 8 ngày = 1.200.000đ;
  • - Thiệt hại về tinh thần với khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là 03 lần mức lương cơ sở (2.340.000đ/tháng theo Nghị định 73/2024/NĐ-CP30/6/2024): 2.340.000₫ x 03 = 7.020.000đ;
  • Tổng cộng các khoản (làm tròn) là: 10.820.000₫ (Mười triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng).

Như vậy, Lê Văn T phải bồi thường cho Đoàn Văn U số tiền là 10.666.000đ, còn Đoàn Văn U phải bồi thường cho Lê Văn T số tiền là 10.820.000đ.

[5] Về vật chứng:

01 (một) cây gậy hộp kẽm, 01 (một) xẻng sắt có cán là gỗ tre, cần tịch thu tiêu hủy; Trả lại bị cáo Đoàn Văn U 01 treo lưới dài khoảng 8m, đã qua sử dụng; Trả lại bị cáo Lê Văn T 01 chiếc mũ cối, đã qua sử dụng.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

[1] Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn T, Đoàn Văn U phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn T 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/11/2024).

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đoàn Văn U 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/11/2024).

Giao các bị cáo Lê Văn T, Đoàn Văn U cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 1221/LCCT-VKS, 1222/LCCT-VKS ngày 01/11/2024 và các Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 1223/QĐ-VKS, 1224/QĐ-VKS đều cùng ngày 01/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên đối với các bị cáo Lê Văn T, Đoàn Văn U.

[2] Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590, Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự;

Buộc bị cáo Lê Văn T phải bồi thường cho bị cáo Đoàn Văn U số tiền là: 10.666.000đ (Mười triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

Buộc bị cáo Đoàn Văn U phải bồi thường cho bị cáo Lê Văn T số tiền là: 10.820.000đ (Mười triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thanh toán đủ khoản tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[3] Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây gậy hộp kẽm, đã qua sử dụng; 01 (một) cái xẻng bằng sắt, có cán là gỗ tre, đã qua sử dụng.

Trả lại bị cáo Lê Văn T 01 (một) chiếc mũ cối, đã qua sử dụng.

Trả lại bị cáo Đoàn Văn U 01 (một) treo lưới dài khoảng 8m, đã qua sử dụng.

(Tình trạng, đặc điểm đồ vật được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 06/BB-CCTHADS ngày 14/11/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Yên).

[4] Về án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 533.300đ (Năm trăm ba mươi ba nghìn ba trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Đoàn Văn U phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 541.000đ (Năm trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo (đồng thời là bị hại) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Tiên Yên;
  • - Công an huyện Tiên Yên (CQ CSĐT);
  • - UBND xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Yên;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu VP, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Nhật Quang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Mạnh CườngPhạm Nhật Q
Bùi Thị Qua
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về cố ý gây thương tích (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Văn Uyên - Lê Văn Thanh Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger