Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ TÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 07 – 3 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trương Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Miên.

Ông Lý Thanh Chiều.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Tâm - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03 và ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1/ Bùi Thị Mỹ C (Tên gọi khác: Bé S), sinh ngày 01/01/1979, tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn L (chết) và bà Đào Thị T (chết); Anh chị em có 06 người; Chồng tên Chiêm Phước L1, có 02 người con (lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2009) tiền án: Không có; tiền sự: Không có.

Bị khởi tố ngày 29/10/2024 và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 30/10/2024 xho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

2/ Lê Thành T1 (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 01/01/1974, tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: Lớp 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Y (chết) và bà Bùi Thị M; Anh chị em có 09 người; Vợ tên Nguyễn Thị Cẩm V (đã ly hôn), có 02 người con (lớn nhất sinh năm 1997 và nhỏ nhất sinh năm 2003); tiền án: Không có; tiền sự: Không có.

Bị khởi tố ngày 29/10/2024 và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 30/10/2024 đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phan Thanh Đ, sinh năm 1979. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 07 phút ngày 30/7/2024, thông qua ứng dụng Zalo bị cáo Lê Thành T1, có nick Z là "Le Ty" đã dùng điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 12 Pro Max, màu xanh lam nhắn tin cho bị cáo Bùi Thị Mỹ C, (tên thường gọi là Bé S), có nick zalo là “ss” để nhờ mua số lô, số đề các đài Bạc Liêu và Bến Tre (thường gọi là Miền Nam) với nội dung tin nhắn "Dd.11.19.200nlo20n2d dd10.18.08.52.50nbl" nhưng bị cáo C không đi mua chỗ người khác mà bị cáo C giữ lại để bán số lô đề cho bị cáo T1, có nghĩa là bị cáo T1 mua các con số sau:

- Mua số 11 và số 19 (loại số đầu đuôi) hai đài Bạc Liêu và Bến T2 (mỗi con số mua với số tiền đầu 200.000 đồng và đuôi 200.000 đồng). Tổng số tiền mua hai con số của hai đài là 1.600.000 đồng. Theo thỏa thuận thì bị cáo C sẽ giảm 15% số tiền mua số lô, số đề cho bị cáo T1 (giảm 240.000 đồng) nên số tiền thực tế bị cáo T1 phải trả cho việc mua các con số trên là 1.360.000 đồng.

- Mua số lô 11 và số lô 19 hai đài Bạc Liêu và Bến T2 (mua mỗi con số lô là 20.000 đồng). Quy ước cách tính tiền đối với lô này là nếu mua số lô 1.000 đồng thì phải trả số tiền là 13.500 đồng. Bị cáo T1 mua 20.000 đồng số lô 11 và 19 của hai đài thì số tiền bị cáo T1 phải trả cho bị cáo C là: 20.000 đồng x 13.500 đồng x 2 đài x 20.000 đồng = 1.080.000 đồng.

- Mua các con số 10, 18, 08, 52 (loại số đầu đuôi) mua mỗi con đầu 50.000 đồng và đuôi 50.000 đồng một đài Bạc Liêu. Tổng số tiền mua bốn con số này là 400.000 đồng, trừ tiền được giảm 15% (60.000 đồng), thì bị cáo T1 còn phải trả cho bị cáo C số tiền 340.000 đồng.

Tổng số tiền mua các con số đài Bạc Liêu, Bến Tre mà bị cáo T1 phải trả cho bị cáo C là 2.780.000 đồng. Kết quả xổ số mở thưởng đài Bạc Liêu và Bến Tre vào ngày 30/7/2024, bị cáo T1 không trúng số.

Đến 17 giờ 18 phút ngày 30/7/2024, bị cáo Lê Thành T1 tiếp tục nhắn tin qua Zalo cho bị cáo C mua số đài miền B với nội dung "Da.520072.5n", tức là mua số đá 03 con 52-00-72, mua mỗi con 5.000 đồng, theo quy ước cách tính tiền đối với việc mua số đá này là nếu mua 1.000 đồng thì phải trả số tiền là 45.000 đồng. Bị cáo T1 mua 03 con, mỗi con 5.000 đồng nên số tiền bị cáo T1 phải trả cho bị cáo C là: 5.000 đồng x 3 x 45.000 đồng = 675.000 đồng. Hình thức chơi đối với số đá Miền B như sau: Người chơi phải mua từ hai số trở lên, có thể là đá 02 con, 03 con hoặc 04 con. Kết quả xổ số, nếu có từ hai con số trở lên trùng với hai số cuối trong 27 lô của đài xổ số mà người chơi mua thì người chơi trúng, tỷ

lệ cá cược là 1.000 đồng thì trúng được 600.000 đồng. Nếu không có số nào hoặc chỉ có một số trùng với hai số cuối trong 27 lô của đài xổ số mà người chơi mua thì người chơi không trúng. Kết quả xổ số, bị cáo T1 trúng 03 con số 52-00-72, với số tiền trúng số là 9.000.000 đồng. Do bị cáo T1 chưa trả tiền mua số, nên trừ số tiền mua số lô, số đề trong ngày 30/7/2024 là 3.455.000 đồng (gồm tiền mua số các đài miền N là 2.780.000 đồng và đài miền B là 675.000 đồng) thì bị cáo T1 còn nhận được số tiền trúng số còn lại là 5.545.000 đồng. Vào sáng ngày 31/7/2024, bị cáo Bùi Thị Mỹ C đã chuyển khoản số tiền 5.545.000 đồng cho bị cáo Lê Thành T1.

Đến khoảng 22 giờ 10 phút ngày 31/7/2024, khi Lê Thành T1 đang đi cùng với Phan Thanh Đ, sinh năm 1979, cư trú: ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng ở khu vực chợ E, khu đô thị E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thì bị Tổ công tác 123 Công an tỉnh S kiểm tra người, điện thoại và phương tiện, qua kiểm tra tổ công tác phát hiện Phan Thanh Đ và Lê Thành T1 có dấu hiệu vi phạm liên quan đến hành vi đánh bạc trái phép và cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên tổ công tác đã bàn giao vụ việc cùng các tang vật có liên quan cho Công an P1, thành phố S để kiểm tra, xác minh theo quy định. Đến ngày 05/8/2024, Công an P1, thành phố S đã chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M thụ lý theo thẩm quyền.

Tang vật bị tạm giữ gồm:

01 (một) đôi giấy tập học sinh có thể hiện nội dung người tên Diệp T3 P mượn tiền của người tên Phan Thanh Đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng có ốp lưng bằng mũ dẻo trong suốt của Phan Thanh Đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, màu xanh lam có ốp lưng màu xanh lam; 08 (tám) tờ giấy nhỏ, gồm 03 tờ giấy loại A4 được cắt ra thành miếng nhỏ (đánh số thứ tự từ tờ 1 đến tờ 3) và 05 tờ giấy loại giấy tập học sinh cắt ra (được đánh số thứ tự từ 4 đến tờ 8) của bị cáo Lê Thành T1.

Quá trình điều tra, sau khi làm rõ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã trả lại cho Phan Thanh Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng có ốp lưng bằng mũ dẻo trong suốt; trả lại cho bị cáo Lê Thành T1 08 (tám) tờ giấy nhỏ, gồm 03 tờ giấy loại A4 được cắt ra thành miếng nhỏ (đánh số thứ tự từ tờ 1 đến tờ 3) và 05 tờ giấy loại giấy tập học sinh cắt ra (được đánh số thứ tự từ 4 đến tờ 8).

Đối với 01 (một) đôi giấy tập học sinh có thể hiện nội dung người tên Diệp T3 P mượn tiền của người tên Phan Thanh Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã chuyển đến Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự -Kinh tế - Ma túy Công an huyện M để xem xét xử lý hành chính theo quy định.

Đối với vật chứng còn lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M chuyển đến Cơ quan Thi hành án dân sự huyện M để tạm giữ đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án.

Theo Cáo trạng số: 03/CT-VKSMT ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú để xét xử các bị cáo Bùi Thị Mỹ C và bị cáo Lê Thành T1 cùng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa: Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Bùi Thị Mỹ C và bị cáo Lê Thành T1 cùng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điều 50; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 tuyên phạt các bị cáo: Tuyên phạt bị cáo Bùi Thị Mỹ C mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; tuyên phạt bị cáo Lê Thành T1 mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, màu xanh lam có ốp lưng màu xanh lam và buộc bị cáo Lê Thành T1 nộp lại số tiền đánh bạc và trúng đề Miền Bắc ngày 30/7/2024 là 9.675.000 đồng. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát bổ sung nội dung Cáo trạng đề nghị bị cáo T1 nộp lại số tiền tham gia đánh bạc đài Miền Nam ngày 30/7/2024 chưa đủ định lượng truy tố là 2.780.000 đồng. Buộc bị cáo C nộp lại số tiền đánh bạc ngày 30/7/2024 là 3.455.000 đồng (bao gồm đài Miền Nam số tiền 2.780.000 đồng và M1 bắc số tiền 675.000 đồng).

Tại phiên tòa, các bị Bùi Thị Mỹ C và bị cáo Lê Thành T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Trong phần trình bày lời nói sau cùng các bị cáo xin được hưởng án treo để có thời gian chăm sóc gia đình vì các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa hôm nay, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Thanh Đ nhưng ông Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt ông Đ không gây cản trở cho việc xét xử, cơ quan điều tra cũng đã tiến hành lấy lời khai ông Đ nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Thanh Đ.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết

định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Thành T1 và bị cáo Bùi Thị Mỹ C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Xét thấy, lời khai nhận của các bị cáo là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi đánh bạc của các bị cáo Bùi Thị Mỹ C và bị cáo Lê Thành T1 xảy ra vào ngày 30/7/2025 tại lần mở thưởng đài Miền Bắc là 9.675.000 đồng (trong đó: Số tiền đánh bạc là 675.000 đồng, số tiền bị cáo T1 trúng thưởng là 9.000.000 đồng), quá trình điều tra xác định bị cáo C chỉ tham gia bán số lô đề cho bị cáo T1, ngoài ra không còn bán cho người nào khác. Vì vậy, hành vi của các bị cáo Bùi Thị Mỹ C và bị cáo Lê Thành T1 đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo:

[4.1]. Đối với bị cáo Lê Thành T1: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có học vấn thấp nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách hiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2]. Đối với bị cáo Bùi Thị Mỹ C: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách hiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mặc dù quá trình điều tra chỉ xác định bị cáo C bán số lô đề cho 01 mình bị cáo T1 nhưng bị cáo C tham gia với vai trò là người bán số lô đề, sau khi bị phát hiện thì bị cáo C đã tiêu hủy chiếc điện thoại là công cụ phạm tội nên khi lượng hình bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T1.

[5] Xét thấy, đánh bạc là một tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an, không ít hậu quả của việc đánh bạc đã ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của nhiều gia đình và nghiêm trọng hơn là làm phát sinh nhiều tội phạm khác từ việc đánh bạc gây ra. Các bị cáo Bùi Thị Mỹ C, bị cáo Lê Thành T1 là những người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn ngang nhiên tham gia đánh bạc. Tuy nhiên, các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51, bị cáo T1 có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Các bị cáo không thuộc trường hợp không được hưởng án treo theo quy định tại Điều

3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Hội đồng xét xử nhận thấy việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, tạo điều kiện cho các bị cáo vừa cải tạo vừa có thời gian chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái. Vì vậy, lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo hưởng án treo là có căn cứ chấp nhận như đã phân tích nêu trên.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luất Tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, màu xanh lam có ốp lưng màu xanh lam của bị cáo Lê Thành L2
  • - Buộc bị cáo Lê Thành T1 nộp lại số tiền đánh bạc và trúng đề Miền B ngày 30/7/2024 là 9.675.000 đồng (Chín triệu, sáy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) và số tiền đánh bạc đài Miền Nam ngày 30/7/2024 là 2.780.000 đồng (hai triệu, bảy trăm tám mươi nghìn đồng).
  • - Buộc bị cáo Bùi Thị Mỹ C nộp lại số tiền đánh bạc ngày 30/7/2024 (bao gồm 2 đài M và Miền B) số tiền 3.455.000 đồng (ba triệu, bốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng).

[7] Đối với hành vi của bị cáo Lê Thành T1 mua số lô, số đề của bị cáo Bùi Thị Mỹ C các đài Cần Thơ, Sóc Trăng (đài M2) và mua số đá 04 con 56-61-39-27 đài Miền B vào ngày 31/7/2024, quá trình điều tra đã xác định các lần mua số lô, số đề này chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M chuyển vụ việc để xem xét xử lý hành chính đúng theo quy định nên không đặt ra xem xét.

Đối với hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bị cáo Lê Thành T1 và đối tượng Phan Thanh Đ, quá trình điều tra đã xác định các lần cho vay của bị cáo T1 và Đ chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã chuyển vụ việc để xem xét xử lý hành chính đúng theo quy định nên không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vế án phí, lệ phí Tòa án.

[9] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú nêu trong phần nội dung vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Thành T1;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Bùi Thị Mỹ C;

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố các bị cáo Bùi Thị Mỹ C và bị cáo Lê Thành T1 phạm tội “Đánh bạc”.

Tuyên phạt bị cáo Bùi Thị Mỹ C 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng được tính kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 07/3/2025. Giao bị cáo Bùi Thị Mỹ C cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng có trách nhiệm giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Tuyên phạt bị cáo Lê Thành T1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng được tính kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 07/3/2025. Giao bị cáo Lê Thành T1 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng có trách nhiệm giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2/ Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax, màu xanh lam có ốp lưng màu xanh lam của bị cáo Lê Thành L2
  • - Buộc bị cáo Lê Thành T1 nộp lại số tiền đánh bạc và trúng đề đài Miền Bắc ngày 30/7/2024 là 9.675.000 đồng (Chín triệu, sáy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) và số tiền đánh bạc đài Miền Nam ngày 30/7/2024 là 2.780.000 đồng (hai triệu, bảy trăm tám mươi nghìn đồng).
  • - Buộc bị cáo Bùi Thị Mỹ C nộp lại số tiền đánh bạc ngày 30/7/2024 (bao gồm 2 đài M và Miền B) số tiền 3.455.000 đồng (ba triệu, bốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng).

3/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Bùi Thị Mỹ C và bị cáo Lê Thành T1 mỗi bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4/ Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Thanh Đ thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

- Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh;
  • - VKS huyện Mỹ Tú;
  • - CA tỉnh Sóc Trăng (Phòng PC 10);
  • - Phân trại tạm giam huyện Mỹ Tú;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú;
  • - Bị cáo; NLQ;
  • - UBND TT Huỳnh Hữu Nghĩa;
  • - UBND xã Mỹ Tú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trương Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về đánh bạc

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T1 và C bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger