|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/DS-ST
Ngày: 04/3/2025
V/v “ Tranh chấp hợp đồng góp vốn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lý
2. Ông Nguyễn Xuân Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Lựu – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26, 27, 28/02 và ngày 03, 04/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 33/2023/TLST-KDTM ngày 26 tháng 4 năm 2023 về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2025/QĐXXST-KDTM ngày 07 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-KDTM ngày 21 tháng 01 năm 2025, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 01/2025/TA-TB ngày 08/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Dương Tuấn V – Sinh năm 1994
Địa chỉ: P, Thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Dương Quốc T - Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. (Giấy ủy quyền lập ngày 24/02/2023 tại Văn phòng C, số công chứng 511, quyển số 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD). Ông T có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Huyền T1 – Văn phòng L – Đoàn Luật sư tỉnh K. Địa chỉ: Căn hộ S, Tầng A, Tòa nhà OC2A, M, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Bà T1 có mặt
Bị đơn: Công ty TNHH T4
Trụ sở: A H, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Đỗ Thành Q – Chức vụ: Giám đốc. Ông Q vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lê Văn T2 - Địa chỉ: A N, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (giấy ủy quyền lập ngày 26/7/2023). Ông T2 có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu H
Địa chỉ: Thôn C, xã V, N Khánh Hòa
Bà H vắng mặt (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - ông Dương Quốc T và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn - Luật sư Lê Huyền T1 trình bày:
Ngày 18/12/2019, ông Dương Tuấn V và Công ty TNHH T4 hay còn gọi là Vuongland T3 (sau đây gọi tắt là “Công ty T4”) đã ký kết Hợp đồng góp vốn.
Cùng ngày, theo đúng thỏa thuận tại Điều 1 Hợp đồng góp vốn, ông V đã thực hiện góp vốn bằng tiền mặt cho Công ty T4 với số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Bà Lưu Thị H1 – kế toán trưởng của Công ty T4 thời điểm này – đã ký giấy xác nhận nhận tiền góp vốn của ông V với nội dung “18/12/2019. Theo lệnh anh Q, H1 đã nhận của Dương Tuấn V 300.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm triệu đồng chẵn)”.
Theo cam kết tại Điều 2 Hợp đồng góp vốn, Công ty T4 có trách nhiệm sử dụng số tiền góp vốn ở Điều 1 để mua xe nhãn hiệu Thaco 29 chỗ và tài sản này sẽ trở thành tài sản chung của ông V và Công ty T4. Tuy nhiên, vào đầu năm 2020, ông V vẫn nhận được tin nhắn của bà Nguyễn Thị Thu H – vợ của ông Đỗ Thành Q là đại diện theo pháp luật và chủ sở hữu Công ty T4. Cụ thể, bà H thông báo rằng Công ty T4 sẽ không mua chiếc xe Thaco 29 chỗ như thỏa thuận ban đầu. Thay vào đó, Công ty T4 sẽ sử dụng chiếc xe mang biển số 79B-03439 (xe cũ, trước đó đã thuộc sở hữu của Công ty T4) làm tài sản chung giữa Công ty T4 và ông V trên cơ sở khoản tiền góp vốn 300.000.000 đồng mà ông V đã thanh toán. Ngoài ra bà H đã đại diện ông Q và Công ty T4 cam kết rằng sẽ thanh toán cho ông V số tiền lợi nhuận ít nhất là 4.000.000 đồng/tháng (Bốn triệu đồng trên một tháng), cho dù 50% lợi nhuận ròng nhỏ hơn hay bằng số tiền này như thỏa thuận tại Điều 3 Hợp đồng góp vốn.
Thực hiện cam kết nêu trên, tính đến ngày đề tại Đơn khởi kiện (ngày 02/03/2023), số tiền lợi nhuận mà Công ty T4 đã thanh toán cho ông V là:
| NGÀY | SỐ GIAO DỊCH | SỐ TIỀN (đồng) | NỘI DUNG CHUYỂN KHOẢN |
|---|---|---|---|
| 15/01/2020 | VNFI.443998 | 4.000.000 | 411515.150120.092227. Huyền ck tien loi cho vinh tx FT20015079108779 |
| 18/04/2020 | 5078.21252 | 4.000.000 | MB VCB388046413.huyen ck. CT tu 0061001143636 NGUYEN THỊ THU HUYEN toi 0581000804099 DUONG TUAN VINH |
| 17/05/2020 | 5091.98849 | 4.000.000 | 168357.170520.091442. Chi huyen ck vinh FT20139217860733 |
| 15/06/2020 | 5091.32926 | 4.000.000 | 586444.150620.174713.Huyen ck tien cho vinh lai xe FT20167607032484 |
| 31/12/2020 | 5091.61437 | 4.000.000 | 848843.311220.193414.Ck vinh FT20366800662163 |
| TỔNG CỘNG | 20.000.000 | ||
| Bằng chữ: Hai mươi triệu đồng | |||
Như vậy, tính từ tháng 01/2020 đến nay, Công ty T4 chỉ mới thanh toán cho ông V 05 (năm) tháng tiền lợi nhuận là 20.000.000 đồng, vi phạm thỏa thuận tại Điều 3 Hợp đồng góp vốn. Xét thấy Công ty T4 liên tục vi phạm nghĩa vụ của mình, vào ngày 30/06/2021, ông V đã liên hệ người đại diện theo pháp luật của Công ty T4 là ông Đỗ Thành Q để yêu cầu hoàn trả số tiền góp vốn 300.000.000 đồng. Yêu cầu này của ông V được căn cứ từ cơ sở pháp lý là quyền của người góp vốn nêu tại Điều 5 Hợp đồng góp vốn, cụ thể: “Bên B có quyền thoái vốn trường hợp bên không thực hiện theo cam kết hợp trong hợp đồng”. Theo đó, ông Q cam kết rằng kể từ tháng 06/2021 cho đến tháng 12/2022, Công ty T4 sẽ hoàn trả cho ông V số tiền góp vốn là 300.000.000 đồng. Tuy nhiên thực tế tính đến ngày khởi kiện (ngày 02/03/2023), ông V chưa nhận được bất kì khoản tiền hoàn trả hay thanh toán nào từ Công ty T4, mặc dù ông V đã nhiều lần yêu cầu bằng tin nhắn cũng như gọi điện thoại.
Nay ông Dương Tuấn V khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH T4 thanh toán một lần cho ông V, bao gồm tiền lợi nhuận và tiền góp vốn là: 432.000.000 đồng (Bốn trăm ba mươi hai triệu đồng), trong đó, tiền góp vốn là 300.000.000 đồng, tiền lợi nhuận là 132.000.000 đồng (tiền lợi nhuận cho 33 (ba mươi ba) tháng chưa thanh toán bao gồm tháng 02, 3, 7, 8, 9, 10, 11 năm 2020, 24 tháng của năm 2021 và năm 2022, tháng 01 và 02 năm 2023. Trong đó, tiền lợi nhuận cam kết thanh toán mỗi tháng là 4.000.000 đồng).
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn - ông Lê Văn T2 trình bày:
Ngày 18/12/2019, giữa Công ty TNHH T4 và ông Dương Tuấn V thỏa thuận hợp tác góp vốn để đầu tư mua xe khách Thaco 29 chỗ. Giá trị góp vốn của ông Dương Tuấn V tương ứng với 50% giá trị góp vốn từ 30% vốn đối ứng để đầu tư mua xe nhãn hiệu Thaco 29 chỗ theo hợp đồng mua bán giữa Công ty TNHH S với công ty TNHH T4. Mục đích góp vốn là để hoạt động kinh doanh chia sẻ lợi nhuận và cùng chịu trách nhiệm lỗ khi hoạt động kinh doanh không hiệu quả. Việc hoạt động kinh doanh không hiệu quả vì dịch bệnh Covid-19 kéo dài nhiều năm liền khiến hoạt động kinh doanh lỗ và phá sản. Phía Công ty nhiều lần làm việc với ông Dương Tuấn V để giải quyết tài sản chung là xe khách Thaco 29 chỗ nêu trên nhưng ông V không phối hợp giải quyết. Nay ông V khởi kiện buộc Công ty TNHH T4 thanh toán tiền lợi nhuận và tiền góp vốn tổng cộng là 432.000.000đ (Bốn trăm ba mươi hai triệu đồng) là không đúng với thỏa thuận góp vốn của Hợp đồng góp vốn ngày 18/12/2019 giữa Công ty TNHH T4 và ông Dương Tuấn V.
Do đó, Công ty TNHH T4 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Tuấn V.
Đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Đỗ Thành Q – Giám đốc Công ty trình bày tại bản tự khai ngày 20/7/2023:
Hợp đồng góp vốn ngày 18/12/2019 giữa Công ty TNHH T4 và ông Dương Tuấn V có nội dung đúng như nguyên đơn đã trình bày. Tuy nhiên kể từ khi khai thác xe trên, Công ty T4 đã nhiều lần chuyển tiền chia lợi nhận cho ông V nhưng ông không nhớ rõ số tiền bao nhiêu. Từ tháng 6/2021 đến nay do tình hình dịch bệnh ảnh hưởng nên Công ty làm ăn không có lợi nhuận. Do đó đối với yêu cầu khởi kiện của ông V về việc yêu cầu Công ty T4 thanh toán tiền góp vốn 300.000.000 đồng và tiền lợi nhuận 132.000.000 đồng thì ông chỉ đồng ý thanh toán tiền góp vốn cho ông V 300.000.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trịnh Thị Thu H2 trình bày tại bản tự khai ngày 25/10/2024:
Bà là vợ của ông Đỗ Thành Q (Chủ sở hữu Công ty TNHH T4) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22/2014, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân xã V, thành phố N cấp ngày 04/4/2014. Công ty TNHH T4 được thành lập ngày 12/5/2014 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 4201598179 toàn bộ phần vốn góp của Công ty thuộc tài sản chung của bà và ông Q. Bà xác nhận ông Dương Tuấn V và Công ty TNHH T4 có thỏa thuận và ký kết hợp đồng góp vốn ngày 18/12/2019. Ông Dương Tuấn V đã giao tiền góp vốn là 300 triệu đồng cho công ty TNHH T4. Tuy nhiên, khi đi vào thực hiện hợp đồng góp vốn trên, đối tượng của hợp đồng là xe 29 chỗ hiệu Thaco do hai bên dự kiến mua mới của Công ty TNHH S đã không thực hiện được vì khoản vay ngân hàng quá lớn, ông Dương Tuấn V không có khả năng và phía công ty TNHH T4 cũng không đủ điều kiện để thực hiện. Do đó, ông V và Công ty TNHH T4 đã tự nguyện chấm dứt hợp đồng góp vốn ngày 18/12/2019 theo tin nhắn trao đổi làm việc giữa ông Dương Tuấn V và bà, nội dung tin nhắn thể hiện Công ty T4 không mua xe Thaco 29 chỗ nữa mà là ông V góp vốn vào xe 79B-03439 một nửa và Công ty T4 một nửa. Ngoài nội dung tin nhắn thỏa thuận, các bên vẫn chưa ký hợp đồng góp vốn cụ thể đối với xe ô tô 79B-03439 này. Bà cho rằng Hợp đồng góp vốn ngày 18/12/2019 là tài sản xe ô tô Thaco 29 chỗ mua mới tại Công ty TNHH S không tồn tại, số tiền góp vốn 300 triệu đồng để mua ô tô mới theo hợp đồng góp vốn ngày 18/12/2019 không thực hiện được.
Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Dương Tuấn V về việc: Buộc Công ty TNHH T4 thanh toán tiền lợi nhuận và tiền góp vốn tổng cộng là 432.000.000₫ (Bốn trăm ba mươi hai triệu đồng), trong đó tiền góp vốn là: 300.000.000đ và tiền lợi nhuận là 132.000.000₫.
Cùng ngày bà có đơn xin vắng mặt tất cả các buổi làm việc, hòa giải, công khai chứng cứ và phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (nếu có).
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử và thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định tại các Điều 49; Điều 51 và Điều 63 của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào Giấy xác nhận tiền góp vốn được ký bởi bà Lưu Thị H1 - kế toán trưởng công ty T4 và lời khai Ông Đỗ Thành Q cũng thừa nhận công ty đã nhận 300.000.000 của ông Dương Tuấn V để mua xe ô tô 29 chỗ nhãn hiệu ThaCo để khai thác kinh doanh du lịch. Ông Q cũng cam kết sẽ trả lại tiền góp vốn cho ông Dương Tuấn V. Căn cứ vào Điều 5 của hợp đồng góp vốn: Bên B có quyền thoái vốn trường hợp bên A không thực hiện theo cam kết hợp đồng. Vì vậy yêu cầu của ông Dương Tuấn V về việc buộc Công ty TNHH T4 thanh toán lại số tiền góp vốn cho ông Dương Tuấn V là 300.000.000 đồng là có sơ sở để chấp nhận. Căn cứ Điều 3 của Hợp đồng góp vốn thì bị đơn sẽ thanh toán cho nguyên đơn tiền lợi nhuận 3.760.000 đồng/tháng, tính thời gian thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ là 62 ngày, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận cho nguyên đơn 31 tháng, như vậy lợi nhuận được tính là: 31 tháng x 3.760.000 đồng = 116.560.000 đồng.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền góp vốn và lợi nhuận. Xét thấy đây là sự thỏa thuận giữa ông Dương Tuấn V và Công ty TNHH T4 về việc cùng góp tài sản để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi, cùng chịu trách nhiệm, Ông Dương Tuấn V là cá nhân không đăng ký kinh doanh. Vì vậy theo quy định tại điều 504 của Bộ luật dân sự thì sự thỏa thuận này được xác định là “Hợp đồng hợp tác”. Theo quy định tại Khoản 3 điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là quan hệ pháp luật dân sự. Bị đơn có trụ sở tại thành phố N nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thu H có yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà H.
[2] Về nội dung vụ án:
Theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện ngày 18/12/2019 giữa ông Dương Tuấn V và Công ty TNHH T4 ký kết “Hợp đồng góp vốn”. Hai bên thỏa thuận ông V sẽ góp vốn với số tiền 300.000.000 đồng để mua xe nhãn hiệu Thaco 29 chỗ. Trong nội dung được thỏa thuận giữa hai bên thể hiện mua xe nhằm mục đích khai thác kinh doanh du lịch cho Công ty TNHH T4 và hàng tháng Công ty T4 sẽ thanh toán tiền lợi nhuận theo nội dung cụ thể trong Hợp đồng là 3.760.000 đồng/tháng, hình thức thanh toán: chuyển khoản vào số tài khoản của ông V.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bên giao kết hợp đồng là tự nguyện, nội dung giao kết hợp đồng không trái với các quy định của pháp luật nên “Hợp đồng góp vốn” ngày 18/12/2019 là hợp pháp, từ đó các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã ký kết. Sau khi ký kết hợp đồng nguyên đơn đã thực hiện việc góp vốn 300.000.000 đồng cho bị đơn.
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả tiền góp vốn là 300.000.000 đồng: đã được đại diện theo pháp luật của Công ty T4 là ông Đỗ Thành Q xác nhận và có ý kiến đồng ý thanh toán lại cho nguyên đơn số tiền này. Căn cứ Điều 5 của Hợp đồng góp vốn là: “Bên B có quyền thoái vốn trường hợp bên A không thực hiện theo cam kết hợp trong hợp đồng” nên yêu cầu của ông V có căn cứ từ cơ sở pháp lý là quyền của người góp vốn. Căn cứ vào Giấy xác nhận tiền góp vốn được ký bởi bà Lưu Thị H1 - kế toán trưởng công ty T4 đã nhận 300.000.000 của ông Dương Tuấn V để mua xe ô tô 29 chỗ nhãn hiệu ThaCo mục đích khai thác kinh doanh du lịch. Do đó yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.
Đối với yêu cầu tiền lợi nhuận 33 tháng là 132.000.000 đồng (4.000.000 đồng/tháng), Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong “Hợp đồng góp vốn” ngày 18/12/2019 không thể hiện cụ thể các vấn đề sau: thời gian bắt đầu hoạt động kinh doanh, thời gian bắt đầu hưởng lợi nhuận, Hợp đồng mua bán xe giữa C1 và Công ty TNHH T4, xe mang biển kiểm soát bao nhiêu, đăng ký ngày nào và và nguyên đơn cũng không có tài liệu nào chứng minh được các vấn đề nêu trên. Trong nội dung của Hợp đồng góp vốn thỏa thuận lợi nhuận cam kết hàng tháng nguyên đơn sẽ được nhận 3.760.000 đồng nhưng trong thời gian kinh doanh khó khăn mà bị đơn vẫn trả cho nguyên đơn 4.000.000 đồng vào các tháng 1,4,5,6 và tháng 12 của năm 2020, tổng cộng 20.000.000 đồng, số tiền lợi nhuận này cũng đã được người đại diện theo ủy quyền của bị đơn xác nhận tại phiên tòa. Đối với số tiền lợi nhuận 4.000.000 đồng/tháng mà nguyên đơn được nhận như trên là do sự tự nguyện của bị đơn chứ không có thỏa thuận bằng văn bản. Nên nguyên đơn yêu cầu số tiền lợi nhuận mỗi tháng 4.000.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận. Trong năm 2021 toàn tỉnh Khánh Hòa lần lượt thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ, cụ thể: Từ ngày 09/7/2021 đến ngày 07/9/2021 là Công điện số 03/CĐ- CTUBND ngày 08/7/2021, Công điện khẩn số 04/CĐ-CTUBND ngày 22/7/2021, Công điện số 06/CĐ-CTUBND ngày 05/8/2021, Công điện số 07/CĐ-CTUL ngày 19/8/2021 và Công điện số 08/CĐ-CTUBND ngày 24/8/2021 của UBND tinh K. Sau khi áp dụng các chỉ thị thì hoạt động du lịch bị ngưng trệ kéo dài. Tổng cộng thời gian giãn cách xã hội bắt buộc trong năm 2021 là 62 ngày, vì vậy chỉ có cơ sở chấp nhận cho nguyên đơn thời gian được hưởng lợi nhuận là 31 tháng.
Xét lời trình bày của ông Đỗ Thành Q là Giám đốc Công ty TNHH T4: Ông Q xác nhận ông V có thực hiện góp vốn 300.000.000 đồng nhưng do ảnh hưởng tình hình dịch bệnh Covid kéo dài, Công ty làm ăn không có lợi nhuận nên không đồng ý thanh toán tiền lợi nhuận theo yêu cầu của ông V là số tiền 132.000.000 đồng, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy tình hình thực tế tại thời điểm đó có dịch bệnh Covid 19 trên khắp thế giới và diễn biến phức tạp, kéo dài là sự việc bất khả kháng xảy ra ngoài ý muốn của Công ty, trên cả nước đã thực hiện nhiều chỉ thị giãn cách xã hội làm cho các công ty không hoạt động được, đặc biệt là trong hoạt động du lịch. Tuy nhiên, bị đơn không có tài liệu nào để chứng minh hay thông báo cho nguyên đơn biết được tình hình hoạt động của Công ty không mang lại hiệu quả lợi nhuận hay gặp khó khăn trong kinh doanh. Do đó ý kiến này của ông Q là không có cơ sở.
Xét lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thu H về việc bà H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Dương Tuấn V về việc buộc Công ty TNHH T4 thanh toán tiền lợi nhuận là 132.000.000 đồng và tiền góp vốn là 300.000.000 đồng: bà H xác nhận ông V có thực hiện góp vốn 300.000.000 đồng. Tuy nhiên về việc trao đổi tin nhắn với ông Dương Tuấn V có nội dung chấm dứt Hợp đồng góp vốn ngày 18/12/2019 đối với xe Thaco 29 chỗ và thực hiện việc ông V sẽ góp 300.000.000 đồng đó vào xe 79B-03439 (là xe cũ trước đó đã thuộc sỡ hữu của Công ty T4) làm tài sản chung giữa Công ty T4 và ông V thì bà H chỉ thừa nhận là chỉ trao đổi qua tin nhắn, giữa ông V và Công ty T4 vẫn chưa ký hợp đồng góp vốn cụ thể đối với xe ô tô 79B-03439 này và cũng không có văn bản nào thể hiện việc hủy bỏ Hợp đồng góp vốn ngày 18/12/2019. Do đó Hội đồng xét xử nhận thấy Hợp đồng góp vốn ngày 18/12/2019 giữa ông V và Công ty T4 vẫn còn tồn tại. Do đó căn cứ Điều 1 của Hợp đồng góp vốn ngày 18/12/2019 thể hiện nội dung: Bên A (là Công ty TNHH T4) cam kết bên B (là ông Dương Tuấn V) sau thời gian 05 năm, bên B vẫn còn nguyên số tiền góp vốn ban đầu là 300.000.000 đồng, mà thời gian ký hợp đồng góp vốn là ngày 18/12/2019 thì tính đến ngày khởi kiện ngày 03/3/2023 vẫn còn trong thời hạn 05 năm, do đó ý kiến của bà H không có cơ sở chấp chận, việc ông V góp vốn 300.000.000 đồng vào Công ty T4 vẫn còn giá trị.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không cung cấp cho Tòa án tài liệu nào thể hiện nguyên đơn sẽ gửi báo cáo doanh thu và lợi nhuận cho nguyên đơn chậm nhất vào ngày 5 hàng tháng (căn cứ Điều 3 của Hợp đồng góp vốn), cam kết cung cấp các số liệu kinh doanh là minh bạch và đúng theo thực tế cho nguyên đơn (căn cứ Điều 4 của Hợp đồng góp vốn).
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: buộc bị đơn thanh toán tiền góp vốn là 300.000.000 đồng, tiền lợi nhuận là: 31 tháng x 3.760.000 đồng = 116.560.000 đồng. Tổng cộng là 416.560.000 đồng.
[3]. Về án phí:
Bị đơn phải chịu án phí đối với số tiền 416.560.000 đồng.
Nguyên đơn phải chịu án phí đối với số tiền không được chấp nhận 15.440.000 đồng.
H3 lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.868.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0011502 ngày 24/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 504, 506 và Điều 512 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Căn cứ Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án của Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Dương Tuấn V:
- - Buộc công ty TNHH T4 thanh toán lại số tiền góp vốn cho ông Dương Tuấn V là 300.000.000 đồng
- - Buộc công ty TNHH T4 thanh toán tiền lợi nhuận là 31 tháng x 3.760.000 đồng = 116.560.000 đồng.
Tổng cộng là 416.560.000 đồng, thời hạn thanh toán một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn thi hành án, nếu bị đơn chưa trả hết số tiền nêu trên thì hàng tháng bị đơn còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Bị đơn phải chịu án phí là 20.662.400 đồng.
Nguyên đơn phải chịu án phí 772.000đồng.
H3 lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.868.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0011502 ngày 24/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.
Qui định:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Vũ Linh |
Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng góp vốn
- Số bản án: 12/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp vốn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vinh - Cty Nhiên Thiên
