|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2025/DS-ST Ngày: 04 - 3 - 2025. V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Nguyên và ông Lê Đình Khôi
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 241/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/DSST-QĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam).
Địa chỉ: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Lee Yun H – Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hải N – sinh năm: 2002.
Địa chỉ: B L, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P – sinh năm: 1982.
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(anh N vắng mặt có lý do; anh P vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trần Hải N trình bày:
Vào ngày 10/3/2022, Công ty T (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty) và ông Nguyễn Văn P đã ký kết Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2955393 để vay tổng số tiền 23.985.000đ, trong đó gồm 22.500.000đ tiền vay và 1.485.000đ tiền bảo hiểm khoản vay với mức lãi suất 41%/năm.
Theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng, ông P có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với tổng số tiền 1.635.597đ trong kỳ hạn 30 tháng kể từ ngày 25/3/2022 đến ngày 25/8/2024.
Sau khi ký kết, Công ty đã giải ngân cho ông P đúng số tiền theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng giữa hai bên.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông P đã thanh toán được 17 kỳ với tổng số tiền là 13.608.383đ. Tuy nhiên, kể từ ngày 25/7/2023 đến nay, ông P không tiếp tục thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty đã giải ngân.
Công ty đã liên hệ với ông P nhiều lần nhưng ông P vẫn không có thiện chí trả nợ.
Nay Công ty T (Việt Nam) yêu cầu ông Nguyễn Văn P phải có trách nhiệm thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 04/3/2025 gồm: Nợ gốc là 23.985.000đ, nợ lãi trong hạn là 6.158.004đđ, nợ lãi quá hạn là 14.525.890đ, nợ lãi chậm trả là 726.057đ, tổng cộng là 45.394.951₫.
Ngoài ra, Công ty yêu cầu ông P phải thanh toán tiền lãi phát sinh tính từ ngày 05/3/2025 đến ngày ông P trả hết nợ cho Công ty theo lãi suất quá hạn được quy định tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2955393 ngày 10/3/2022.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn P: Mặc dù khi thụ lý và tiến hành các hoạt động tố tụng, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập ông P đến Tòa án làm việc nhưng ông P không đến Tòa án để thể hiện ý kiến, yêu cầu của mình.
Các tài liệu, chứng cứ các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập thì Tòa án đã ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Do đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt có lý do (có đơn xin xét xử vắng mặt), bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
- + Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc ông Nguyễn Văn P phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) số tiền nợ gốc là 23.985.000đ, nợ lãi trong hạn là 6.158.004₫, nợ lãi quá hạn là 14.525.890đ, nợ lãi chậm trả là 726.057đ, tổng cộng là 45.394.951đ.
+ Về án phí: Đề nghị buộc ông Nguyễn Văn P phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn ông Nguyễn Văn P, mục đích tiêu dùng cá nhân. Ông P đang cư trú tại huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
[1.2]. Về tư cách tham gia tố tụng:
Căn cứ Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Công ty T (Việt Nam) là người khởi kiện nên xác định là nguyên đơn, ông Nguyễn Văn P là người bị kiện nên xác định là bị đơn.
Đại diện theo pháp luật của Công ty T (Việt Nam) ủy quyền cho anh Trần Hải N đại diện tham gia tố tụng. Căn cứ Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự, xác định anh N là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh N có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt, ông P vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[1.4]. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 25/7/2023, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng tín dụng. Ngày 23/7/2024, Công ty T (Việt Nam) nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của Công ty còn trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015. Mặt khác, trong vụ án này không có bên nào yêu cầu áp dụng thời hiệu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung: Do giao dịch dân sự được xác lập và thực hiện từ ngày 10/3/2022 nên pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án là các Điều 357, 463, 464, 465, 466, 467, 468, 469 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 4, 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010.
[3]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1]. Về số tiền nợ gốc: Công ty T (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn P thanh toán khoản tiền nợ gốc là 23.985.000đ theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2955393 ngày 10/3/2022. Xét nội dung các đương sự thỏa thuận về số tiền, mục đích vay là tự nguyện, nội dung thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật, do đó, thỏa thuận tín dụng giữa các bên có hiệu lực pháp luật. Bị đơn ông Nguyễn Văn P vi phạm thanh toán tiền nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền vay, vi phạm điều khoản thanh toán theo thỏa thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc là 23.985.000đ là có cơ sở để chấp nhận.
[3.2].Về số tiền lãi:
Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn yêu cầu tính lãi trong hạn và lãi quá hạn là có căn cứ.
Về mức lãi suất được áp dụng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 thì: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng... thì áp dụng theo quy định của Luật này”. Theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động Công ty của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do vậy, đối với hợp đồng vay mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận mà không theo quy định về lãi của Bộ luật Dân sự.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng (tính đến ngày 04/3/2025), cụ thể như sau:
- - Số tiền lãi trên nợ gốc trong hạn là 6.158.004₫.
- - Số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn là: 14.525.890đ.
- - Số tiền nợ lãi chậm trả là 726.057₫.
[3.3]. Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử buộc ông Nguyễn Văn P phải thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) tổng số tiền tính đến ngày 04/3/2025 là gồm nợ gốc là 23.985.000đ, nợ lãi trong hạn là 6.158.004đ, nợ lãi quá hạn là 14.525.890đ, nợ lãi chậm trả là 726.057đ, tổng cộng là 45.394.951đ. Làm tròn là 45.395.000₫.
Ngoài ra, ông Nguyễn Văn P còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2955393 ngày 10/3/2022 giữa Công ty T (Việt Nam) và ông P cho đến khi trả hết nợ cho Công ty T (Việt Nam).
[4]. Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì ông Nguyễn Văn P phải chịu án phí DSST có giá ngạch đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Án phí được tính là 45.395.000₫ x 5% = 2.269.750₫. Làm tròn là 2.270.000₫.
[5]. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, do đó được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 68, Điều 85, Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Các Điều 105, 149, 357, 463, 464, 465, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Các Điều 4, 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;
- - Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T (Việt Nam) đối với ông Nguyễn Văn P về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc ông Nguyễn Văn P phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) số tiền nợ gốc là 23.985.000đ, nợ lãi trong hạn là 6.158.004đ, nợ lãi quá hạn là 14.525.890đ, nợ lãi chậm trả là 726.057đ, tổng cộng là 45.394.951đ. Làm tròn là 45.395.000₫ (Bốn mươi lăm triệu ba trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
Ngoài ra, ông Nguyễn Văn P còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2955393 ngày 10/3/2022 giữa Công ty T (Việt Nam) và ông P cho đến khi trả hết nợ cho Công ty T (Việt Nam).
-
Về án phí:
Ông Nguyễn Văn P phải chịu 2.270.000₫ (Hai triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí DSST có giá ngạch.
Trả lại cho Công ty T (Việt Nam) số tiền 846.000đ (Tám trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) Công ty đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0013558 ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Lợi |
Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 12/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
