|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 12/2025/HS-ST Ngày 27 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định
Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Đức Thành và bà Vũ Thị Lâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tiến Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 14/02/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chu Văn C, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1998, tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Nơi thường trú: tổ A, khu G, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn C1 và bà Nguyễn Thị Đ; không có vợ; có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2024; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 16/3/2021, Toà án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 08/7/2022 chấp hành xong hình phạt tù; bị bắt tạm giam ngày 03/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- anh Nguyễn Vân T, sinh năm 1998; nơi cư trú: khu B, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt).
- anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1993; nơi cư trú: khu B, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt).
- anh Đào Văn T1, sinh năm 1999; nơi cư trú: khu B, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
- anh Hoàng Đình B, sinh năm 1991; nơi cư trú: khu B, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- anh Ma Lập T2, sinh năm 1996; nơi thường trú; thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; nơi tạm trú: tổ A, kkhu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
2. anh Nguyễn Sỹ T3, sinh năm 1993; nơi cư trú: thôn D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: tổ G, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
3. chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; nơi cư trú: khu T, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ ngày 25/11/2023, tại khu Đ, phường M, thị xã Q, Chu Văn C gặp Lê Công H1, cả hai bàn bạc cùng nhau trộm cắp tài sản bán lấy tiền ăn tiêu. C liền gọi điện thoại cho anh Nguyễn Sỹ T3, sinh năm 1993, trú tại tổ G, khu G, phường H, thành phố H, thuê xe ô tô tải của anh T3 chở tài sản về thành phố H.
Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 26/11/2023, anh Nguyễn Sỹ T3 điều khiển xe ô tô tải, biển kiểm soát 14C-343.43 đến ngã ba Cây số A, phường M, thị xã Q gặp H1 và C, anh T3 đỗ xe rồi cùng C ngồi sau xe mô tô do H1 điều khiển. Khi đi đến khu B, phường Đ, thị xã Q, H1 dừng xe mô tô lại giao xe mô tô cho anh T3 để anh T3 điều khiển đi ra chỗ ôtô đỗ còn C và H1 đi bộ đến trước cổng nhà ông Nguyễn Công Đ1, sinh năm 1977, trú tại khu B, phường Đ. H1 dùng dụng cụ cắt khóa mang theo từ trước, cắt khóa cổng, đi vào sân rồi cả hai trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, màu xanh - bạc-đen, biển kiểm soát 17B7-235.81 của anh Nguyễn Văn M sinh năm 1993; xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh-đen-bạc, biển kiểm soát 29T1-569.16 của anh Nguyễn Vân T - sinh năm 1998 sau đó đem 02 xe lên thùng xe ô tô của anh T3. Cả hai tiếp tục quay lại nhà trọ của gia đình ông T6 trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu trắng, biển kiểm soát 26B2-018.31của anh Hoàng Đình B - sinh năm 1991 và xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUSFI, màu đen - vàng, biển kiểm soát 37P1-187.13 của anh Đào Văn T1 - sinh năm 1999 (anh M, T, B, T1 đều là những người thuê trọ nhà ông Đ1). Sau khi đưa 04 xe mô tô trộm cắp lên thùng xe ô tô của anh T3 thì H1 bỏ đi, còn anh T3 điều khiển xe ô tô cùng C đem 04 chiếc xe mô tô về để tại bãi thu mua phế liệu của anh T3 tại tổ G, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Khoảng 14 giờ ngày 26/11/2023, C gọi điện nhờ anh Mạ Lập T4, sinh năm 1996, tạm trú ở tổ A, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh đến hạ 04 mô tô từ thùng xe tải xuống bãi phế liệu của anh T3, rồi C cùng anh T4 đưa 04 xe mô tô về cất giấu tại nhà trọ của C ở tại tổ A, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. C tháo biển kiểm soát của 02 xe mô tô YAMAHA JUPITER và xe YAMAHA SIRIUSFI còn xe mô tô HONDA VISION để trong quán và cho anh Ma L T4 mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát HONDA WAVE. Trong quá trình sử dụng C và anh T4 làm mất chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER và chiếc xe mô tô HONDA WAVE.
Ngày 29/11/2023, Cơ quan điều tra kiểm tra hành chính nhà trọ của Chu Văn C thu giữ xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu trắng, và xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUSFI, biển kiểm soát 26B2-018.31 và 02 biển số xe mô tô 17B7-235.81 và 37P1-187.13.
Kết luận định giá tài sản số 105, ngày 27/12/2023, của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUSFI màu đen - vàng, biển kiểm
soát 37P1-187.13 có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp là 6.300.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu trắng, biển kiểm soát 26B2 - 018.31 có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp là 12.800.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu xanh - bạc - đen, biển kiểm soát 17B7-235.81 có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp là 14.500.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh - đen-bạc, biển kiểm soát 29T1-569.16 có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp là 9.750.000 đồng.
Đến ngày 03/7/2024, Chu Văn C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q bắt giữ, tại Cơ quan điều tra Chu Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 857/CT-VKSQY ngày 15/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố Chu Văn C về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị:
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Chu Văn C từ 24 đến 27 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 03/7/2024.
- - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
- - Ghi nhận việc tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Văn T5 10.000.000 đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Văn M 15.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Chu Văn C khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 25/11/2023, tại phường M, thị xã Q, C và Lê Công H1, bàn bạc cùng nhau trộm cắp tài sản bán lấy tiền ăn tiêu; C gọi điện thoại cho anh Nguyễn Sỹ T3, thuê xe ô tô tải của anh T3 chở tài sản về thành phố H. Sau khi anh T3 điều khiển xe ô tô đến, C và H1 đi bộ đến trước cổng nhà dân tại khu vực B, phường Đ, thấy có nhiều xe mô tô dựng trong sân, H1 dùng dụng cụ cắt khóa mang theo từ trước, cắt khóa cổng, đi vào sân rồi cả hai trộm cắp 04 xe mô tô. Sau khi đưa 04 xe mô tô trộm cắp lên thùng xe ô tô của anh T3 thì H1 bỏ đi, anh T3 điều khiển xe ô tô cùng C đem 04 chiếc xe mô tô về để tại bãi thu mua phế liệu của anh T3 tại tổ G, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Khoảng 14 giờ ngày 26/11/2023, C gọi điện nhờ anh Mạ Lập T4, đến hạ 04 mô tô từ thùng xe tải xuống bãi phế liệu của anh T3, rồi C cùng anh T4 đưa 04 xe mô tô về cất giấu tại nhà trọ của C ở tại tổ A, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. C tháo biển kiểm soát của 02 xe mô tô YAMAHA JUPITER và xe YAMAHA SIRIUSFI còn xe mô tô HONDA VISION để trong quán và cho anh Ma L T4 mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát HONDA WAVE. Trong quá trình sử dụng C và anh T4 làm mất chiếc xe mô tô 01 nhãn hiệu YAMAHA JUPITER biển kiểm soát 17B7- 235.8; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE có biển kiểm soát 29T1- 569.16; lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không có ý kiến gì về nội dung Cáo trạng bị Viện kiểm sát đã truy tố và đưa ra xét xử là đúng người đúng tội, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.
Bị hại anh Nguyễn Vân T có lời khai thể hiện: Anh T là người ở địa phương khác đến thuê nhà trọ ở tại số nhà E, đường B, khu B, phường Đ, thị xã Q để sinh sống và làm việc cùng với 14 người khác nữa (trong đó có các anh: Nguyễn Văn M, Đào Văn T1,
Nguyễn Ngọc K và Hoàng Đình B). Khoảng 23 giờ ngày 25/11/2024, anh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE Alpha, màu xanh-đen-bạc, BKS: 29T1-569.16 về nhà trọ, sau khi về nhà trọ, anh T dùng khóa chữ U để khóa cổng rồi đi ngủ. Đến khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 26/11/2023 anh Nguyễn Ngọc K cùng nhà trọ đi làm về gọi mọi người dậy bảo bị mất trộm xe rồi nên đã gọi cùng một số người khác đang trọ cùng dậy kiểm tra, mọi người đi ra sân kiểm tra thì phát hiện khóa cổng chữ U của nhà trọ bị cắt. Sau khi kiểm tra, mọi người phát hiện bị mất 04 chiếc xe mô tô, trong đó anh T bị mất 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh-đen-bạc, BKS: 29T1-569.16; anh Nguyễn Văn M bị mất 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, màu xanh- bạc-đen, BKS: 17B7-235.81; anh Đào Văn T1 bị mất 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUSFI, màu đen-vàng, BKS: 37P1-187.13; anh Hoàng Đình Binh B1 mất 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu trắng, BKS: 26B2-018.31, trong đó có 01 chiếc xe mô tô của anh T nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh đen bạc, gắn BKS: 29T1-569.16 đã qua sử dụng, anh T mua mới xe trên từ năm 2016 tại H, Hà Nội, với giá 19.500.000 đồng (Mười chín triệu năm trăm nghìn đồng) để ngoài sân đã bị mất. Sau đó mọi người đến Công an phường trình báo nội dung trên. Tại cơ quan điều tra anh T yêu cầu bị cáo bồi thường 15.000.000 đồng và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật, tuy nhiên tại đơn xin xử vắng mặt anh T yêu cầu bị cáo bồi thường 10.000.000 đồng và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị hại anh Nguyễn Văn M có lời khai thể hiện phù hợp với lời khai của anh T và khai thêm: anh M bị mất 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, màu sơn xanh-bạc-đen, gắn BKS: 17B7-235.81, đã qua sử dụng, anh M mua mới xe trên từ năm 2016 tại huyện K, tỉnh Thái Bình, với giá 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng). Tại cơ quan điều tra và tại đơn xin xử vắng mặt anh M yêu cầu bị cáo bồi thường 15.000.000 đồng và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị hại anh Đào Văn T1 có lời khai thể hiện phù hợp với lời khai của anh T, anh M và khai thêm: anh T1 bị mất 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đen vàng, BKS: 37P1-187.13, mua từ năm 2014 với giá 25.000.000 đồng, giá trị hiện tại của xe còn khoảng 10.000.000 đồng. Anh T1 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự gì thêm và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị hại anh Hoàng Đình B có lời khai thể hiện phù hợp với lời khai của anh T, anh M, anh T1 và khai thêm: anh Binh bị mất 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu trắng, BKS: 26B2-018.31, xe mua vào năm 2015 với giá khoảng 34.000.000 đồng, giá trị hiện tại của xe khoảng 20.000.000 đồng. Anh B đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự gì thêm và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng Nguyễn Sỹ T3 khai: Vào khoảng 16 giờ 30 phút, bị cáo Chu Văn C, sinh năm 1998, trú tại tổ A, khu G, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh gọi điện bằng số điện thoại 0332.029.xxx nói nội dung “Anh ơi tối rảnh không nên chở em chuyển đồ, em gửi tiền anh” sau đó anh T3 nói “anh chưa biết được, anh đang đi làm, tối anh gọi lại”. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, anh T3 gọi lại cho C hỏi “có chở hàng không, mấy giờ chở, chở sớm anh còn về ngủ mai anh đi làm”, thì C bảo thôi không chở nữa. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, C lại gọi cho anh T3 nói “12 giờ (24 giờ) có chở không anh” thì anh T3 bảo được. Sau đó anh T3 hỏi chở ở đâu thì C nói “anh cứ đi đến ngã ba khu C, phường M, thị xã Q em đón”. Đến
khoảng 00 giờ 00 phút ngày 26/11/2023 anh T3 điều khiển xe ô tô tải thùng, biển kiểm soát 14C – 343.43 đến C thuộc phường M, thị xã Q thì Lê Công H1 (tên thường gọi là Công N), sinh năm 1993, trú tại B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn trắng, anh T3 không nhớ biển kiểm soát, chở theo anh C ra đón anh T3 và dẫn xe anh T3 vào ngõ trường học Trần Quốc T6, tại đây anh C bảo anh T3 lên xe máy chở đến phòng trọ của C rồi đi xe về chỗ ô tô đỗ để chờ, sau đó H1 đưa cho anh T3 một chiếc mũ bảo hiểm và anh T3 ngồi sau cùng, Sau đó H1 chở anh T3 và C đến gần một chiếc cầu anh T3 không rõ địa điểm rồi đưa xe mô tô Honda Vision cho anh T3, còn C và H1 xuống đi bộ (đi đâu thì không rõ) còn anh T3 điều khiển xe mô tô đó quay lại và đi thẳng ra đường quốc lộ 18 để đi về chỗ xe ô tô tải đỗ trước đó và ngồi chờ. Đến khoảng 15 phút sau thì thấy H1 và C điều khiển hai chiếc xe mô tô, một xe nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen và một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupeter, màu sơn đen vàng. Sau đó C bảo anh T3 lên thùng xe để kéo hộ xe vào còn C và H1 đứng dưới đường nhấc xe đưa lên, đầu tiên là đưa xe mô tô Honda Wave nên thùng xe trước, sau đó đưa xe mô tô Yamaha Jupeter lên sau, khi anh T3 đang kéo xe mô tô vào thùng xong thì không thấy C và H1 đâu nữa, đến khoảng 15 phút sau thì anh T3 lại thấy H1 và C tiếp tục điều khiển hai chiếc xe, một xe nhãn hiệu Honda Vision màu sơn trắng và một xe nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đen vàng. Sau đó H1 và C tự đưa hai xe mô tô đó lên thùng xe và khóa thùng xe lại. Sau khi khóa thùng xe lại thì H1 điều khiển xe mô tô Honda Vision lúc đầu đi, còn C thì lên xe tải đi về cùng với anh T3. Khi đi đến khu vực T, thành phố H thì C bảo tôi dừng xe để C xuống, sau đó C bảo T3 cứ đánh xe về bãi mai C qua lấy xe. Sau khi C xuống thì anh T3 đánh xe về bãi phế liệu đề rồi đi ngủ đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày thì C đến lấy xe, thì anh T3 bảo xe để ngoài bãi thì C tự đến lấy, còn anh T3 vẫn ngủ ở trong nhà. Anh T3 chỉ biết việc C có thuê chở đồ về nhà cho C, nhưng C không nói là chở đồ gì và cũng chưa trả tiền “C nói với T3 là chở xe thanh lý”. Anh T3 được C thuê chở 04 chiếc xe mô tô, trong đó có một xe mô tô Honda W, một xe Honda Vision, một xe Yamaha Sirius và một xe Yamaha Jupiter, anh T3 không biết những chiếc xe mô tô mà C thuê chở là tài sản do C và H1 trộm cắp mà có, khi được cơ quan Công an mời lên trụ sở để làm việc thì mới biết những chiếc xe mà C thuê chở là tài sản mà C và H1 trộm cắp.
Chiếc xe ô tô BKS 14C – 343.43 do anh T3 điều khiển là tài sản của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988, trú tại: khu T, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, giao cho anh T3 quản lý và sử dụng, anh T3 mang đi chở thuê cho C thì chị H không biết. Hôm đó anh T3 mặc áo phông ngắn tay, bên ngoài mặc áo khoác màu trắng, C mặc quần dài màu đen, áo khoác màu đen, đầu đội mũ màu đen, H mặc áo khoác màu xanh, quần thể thao màu đen, đầu đội mũ màu đen.
Người làm chứng Ma Lập T4 khai: T4 làm thuê cho bị cáo C, ngày 26/11/2023 C gọi điện thoại nhờ T4 đến bãi phế liệu của T3 ở tại phường H, thành phố H đem các xe máy về phòng trọ, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, mầu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha-Sirius mầu vàng đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mầu xanh và 01 xe mô tô Yamaha-Jupiter mầu đen vàng, mang về quán để cất. Sau đó bị mất 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER biển kiểm soát 17B7- 235.8 và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 29T1- 569.16. T4 không biết nguồn gốc những chiếc xe trên do đâu mà C có, mà chỉ thấy C bảo với T4 đến đưa xe về và
cũng không hỏi C về nguồn gốc những chiếc xe. Ngày 29/11/2023 lực lượng công an đến kiểm tra hành chính thu giữ xe và mời T4 về trụ sở làm việc.
Người làm chứng chị Nguyễn Thị H khai: Chị H và T3 là chị em ruột, hiện tại T3 đang làm thuê cho chị H, công việc của T3 là lái xe, thu mua phế liệu tại tổ G, khu G, phường L, thành phố H, Quảng Ninh, chị H giao lại phương tiện xe ô tô trên cho T3 để T3 trực tiếp điều khiển phương tiện, vận chuyển, thu mua phế liệu. Việc T3 lấy xe ô tô đi đâu, sử dụng vào mục đích gì thì chị H không biết. Ban ngày thì xe chủ yếu phục vụ việc vần chuyển, thu mua phế liệu, tối chị H về nhà nên việc quản lý, sử dụng phương tiện chị H giao toàn quyền cho T3 quyết định, T3 lấy phương tiện đi đâu, làm gì không cần phải gọi điện xin ý kiến của chị H.
Bị hại anh Nguyễn Vân T, anh Nguyễn Văn M, anh Đào Văn T1 và Hoàng Đình B; người làm chứng anh Ma Lập T2, anh Nguyễn Sỹ T3 và chị Nguyễn Thị H, có lời khai tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc định tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai xác nhận của bị hại, người làm chứng và nội dung trích xuất hình ảnh camera giám sát, vật chứng thu giữ, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 00 giờ 30 phút đến 03 giờ 30 phút, ngày 26/11/2023, tại nhà trọ của gia đình ông Nguyễn Công Đ1 ở tại khu B, phường Đ, thị xã Q, Chu Văn C và Lê Công H1 đã có hành vi cắt khoá cổng vào trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUSFI, màu đen - vàng, biển kiểm soát 37P1-187.13 của anh Đào Văn T1 trị giá 6.300.000đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu trắng, biển kiểm soát 26B2-018.31 của anh Hoàng Đình B trị giá 12.800.000đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu xanh-bạc-đen, biển kiểm soát 17B7-235.81 của anh Nguyễn Văn M trị giá 14.500.000đ; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu xanh- đen-bạc, biển kiểm soát 29T1- 569.16 của anh Nguyễn Vân T trị giá 9.750.000đồng. Tổng giá trị tài sản C và H1 trộm cắp là 43.350.000 đồng. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài
sản, đây là một trong những quyền được pháp luật Nhà nước bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về hình phạt:
[3.1]Hình phạt chính:
- Về tính chất, mức độ phạm tội và vai trò của bị cáo: Lê Công H1 và bị cáo Chu Văn C là những người đã trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam tư lợi, thiếu ý thức rèn luyện bản thân, nên đã lợi dụng sơ hở dùng dụng cụ chuẩn bị từ trước trộm cắp, thuê xe ô tô từ thành phố H đến thị xã Q để phục vụ việc vận chuyển tài sản sau khi trộm cắp về thành phố H tiêu thụ điều đó thể hiện sự liều lĩnh trong thực hiện hành vi phạm tội. Xét về vai trò, thấy: Lê Công H1 và bị cáo Chu Văn C phạm tội đồng phạm giản đơn, cùng bàn bạc và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên có vai trò ngang nhau.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội khi đang có tiền án nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản trộm cắp đã thu hồi trả lại cho các anh T1, B, đối với 02 xe của các anh T và M không thu hồi được, bị cáo đã tác động gia đình nộp 25.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên tiền bồi thường cho các anh T và M, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt nghiêm, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để rèn luyện, giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt.
[3.2] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu trắng, biển kiểm soát 26B2-018.31 của anh Hoàng Đình B; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUSFI màu đen-vàng, biển kiểm soát 37P1.187.13 của anh Đào Văn T1; 01 biển kiểm soát 17B7-235.81 của anh Nguyễn Văn M, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu, nên không đề cập giải quyết.
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER biển kiểm soát 17B7-235.81 của anh Nguyễn Văn M; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE có biển kiểm soát 29T1- 569.16 của anh Nguyễn Vân T hiện không thu hồi được nên Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các anh Đào Văn T1 và Hoàng Đình B đã nhận lại tài sản bị trộm cắp; đối với 2 ổ khoá xe mô tô bị hỏng, các anh Đào Văn T1 và Hoàng Đình B không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên không đề cập giải quyết. Đối với chiếc khoá của gia đình ông Nguyễn Công Đ1 bị hỏng nhưng giá trị tài sản không lớn ông Đ1 không yêu cầu bồi thường, nên không đề cập giải quyết. Tại đơn xin xử vắng mặt anh Nguyễn Vân T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 10.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn M yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng.
Lê Công H1 và Chu Văn C cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm dân sự ngang nhau. Do Lê Công H1 hiện tại đã bỏ trốn, nên bị cáo Chu Văn C phải chịu trách nhiệm đối với 02 chiếc xe máy của anh Nguyễn Vân T và anh Nguyễn Văn M hiện chưa thu hồi được. Nếu sau này bị cáo C có yêu cầu Lê Công H1 phải trả lại số tiền này thì bị cáo C sẽ được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác. Tại phiên tòa bị cáo C đồng ý bồi thường cho anh Nguyễn Vân T số tiền 10.000.000 đồng và bồi thường cho anh Nguyễn Văn M số tiền 15.000.000 đồng, bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện nộp 25.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên để trả cho các anh Nguyễn Vân T và Nguyễn Văn M, vì vậy cần ghi nhận việc bị cáo C bồi thường cho anh Nguyễn Vân T số tiền 10.000.000 đồng và anh Nguyễn Văn M số tiền 15.000.000 đồng.
[6] Về các tình tiết khác trong vụ án:
- - Đối với Lê Công H1, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản H1 đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã ra Quyết định khởi tố bị can, Quyết định truy nã, tách vụ án.
- - Đối với anh Nguyễn Sỹ T3 là người điều khiển xe ô tô chở 04 xe mô tô do C thuê; anh Mạ Lập T4 đã giúp C hạ xe từ thùng xe ô tô xuống, mang xe về phòng trọ của C và sử dụng xe HONDA WAVE nhưng anh T3 và anh T4 không biết 04 xe mô tô là tài sản do phạm tội mà có (C nói với anh T3 và anh T4 xe mua thanh lý), nên không đề cập xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;
[8]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 của Bộ luật Dân sự.
- - Tuyên bố: bị cáo Chu Văn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo Chu Văn C 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 03/7/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Vân T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và bồi thường anh Nguyễn Văn M số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) (được trừ đi số tiền bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện nộp 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, theo Biên lai thu tiền số 0003213, ngày 27/02/2025).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, b khoản 1 Điều 3; khoản 1, 3 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị
quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phúc Định |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chu Văn Chiến phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
