Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 12/2025/HS-ST

Ngày: 27/02/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Khoa

Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Tiến

Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Ông Chu Văn Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Trương Ngọc Thiện – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Trí – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Đặng Trường T, sinh năm 1988 tại Khánh Hòa. Nơi ĐKHKTT: 13 11 T, phường P (hiện nay là phường T), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở: Không rõ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T1, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Tuyết T2, sinh năm 1965; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/7/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vũ Thị A - Luật sư Công ty L1, Đoàn Luật sư tỉnh K, địa chỉ: A H, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa

- Bị hại: Ông Võ Hoàng P, sinh năm 1974, địa chỉ: Tổ A N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lý Thị Hồng N, sinh năm 2000, địa chỉ: 6 X, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
  2. Ông Bùi Anh T3, sinh năm 1993, địa chỉ: 1 Ngõ B P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
  3. Ông Đỗ Văn M, sinh năm 1996, địa chỉ: Chung cư H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  4. Bà Hán Thị Thanh X, sinh năm 1998, địa chỉ: Khu D, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
  5. Ông Lê Đức A1, sinh năm 1991, địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Võ Thái S, sinh năm 1999, địa chỉ: Tổ A N, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  2. Ông Phạm Bá H, sinh năm 1992, địa chỉ: D Đ, phường T (hiện nay là phường T), thành phố N, K.Hòa. Vắng mặt.
  3. Bà Lê Nguyên Huê N1, sinh năm 1990, địa chỉ: B T, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Trường T quen biết với ông Võ Hoàng P tại quán bị da “S1” phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Biết ông P đang có nhu cầu xin cho con ruột là Võ Thái S vào ngành Công an nên T nảy sinh ý định lừa ông P để lấy tiền tiêu xài.

Để thực hiện hành vi, mặc dù bản thân không có việc làm nhưng T tự giới thiệu mình đang làm việc tại Nhà khách Chính phủ (nay là trung tâm hội nghị 37, H, B, Hà Nội) và quen biết với Lãnh đạo Công an tỉnh K nên có khả năng xin việc cho S. Để tạo niềm tin cho ông P, T đưa S đến khám sức khỏe tại Trung tâm giám định y khoa tỉnh K rồi nộp hồ sơ đăng ký thực hiện nghĩa vụ Công an vào Công an thành phố N. Sau đó, T nói dối các lý do không có thật như T quen anh L Giám đốc Công an, anh N2, anh H1, anh N3 làm Công an và nại ra việc lý lịch của Võ Thái S có nhân thân xấu, yêu cầu ông P đưa tiền cho T để hối lộ cho các cơ quan chức năng, làm sạch lý lịch; T sử dụng một sim rác lập tài khoản zalo tên “A.Nam CA” nhắn tin vào tài khoản zalo tên “Tho H2 noi” của T với

nội dung là liên hệ với Bộ C cùng với các chi phí để lo trường hợp xin con ông P vào ngành Công an, sau đó T chụp màn hình gửi cho ông P để ông P tin tưởng nên từ ngày 21/10/2021 đến ngày 07/11/2021 ông P đã đưa cho T số tiền 330.000.000 đồng và 10.000 USD, cụ thể:

  1. Lần 1: Ngày 21/10/2021, tại quán bị da “S1” phường N, N ông P đưa cho T 130.000.000 đồng tiền mặt.
  2. Lần 2: Ngày 24/10/2021, tại quán bị da “S1” phường N, N ông P đưa cho T 10.000 USD tiền mặt, chia làm 02 phong bì, mỗi phong bì 5.000 USD.
  3. Lần 3: Ngày 01/11/2021, ông P chuyển khoản 100.000.000 đồng vào số tài khoản 19034291236017 Ngân hàng T5 đứng tên Đặng Trường T.
  4. Lần 4: Ngày 07/11/2021, tại quán bị da “S1” phường N, N ông P đưa cho T 100.000.000 đồng tiền mặt.

Sau mỗi lần nhận tiền, T đều sử dụng số điện thoại 0334.200.xxx của T nhắn tin cho ông P xác nhận đã nhận tiền và lý do nhận tiền. Sau khi nhận tiền của ông P, T không sử dụng vào mục đích xin việc cho S mà tiêu xài cá nhân hết. Thấy S không được tuyển vào ngành Công an nhân dân nên ông P đòi lại tiền thì T trốn tránh, không liên lạc với ông P. Biết bị lừa nên ông P làm đơn tố cáo T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K, Đặng Trường T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Tại công văn số 679/KHH-THNSKSNB ngày 28/6/2023 của Ngân hàng N4 chi nhánh tỉnh K xác định: Tỷ giá trung tâm của Đ so với Đô la Mỹ áp dụng ngày 24/10/2021 là 23.142 VNĐ/USD. Do đó 10.000 USD quy đổi bằng 231.420.000 đồng. (BL số 33).

Tổng số tiền T chiếm đoạt của ông P là 561.420.000 đồng. Bị cáo Đặng Trường T trong quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại.

Tang vật tạm giữ: Không.

Phần dân sự: Ông Võ Hoàng P yêu cầu bồi thường số tiền 560.000.000 đồng, gia đình của bị cáo đã bồi thường số tiền 110.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng số 51/CT-VKSKH-P1 ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt

Đặng Trường T từ 12 – 14 năm tù. Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 450.000.000 đồng.

- Luật sư Vũ Thị A bào chữa cho bị cáo Đặng Trường T trình bày: Thống nhất về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để quyết định mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo.

- Bị hại là ông Võ Hoàng P trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem bị cáo theo đúng qui định. Về trách nhiệm dân sự, đã nhận của gia đình bị cáo 110.000.000 đồng và yêu cầu tiếp tục bồi thường .

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, xét thấy việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[3] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Trường T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét thấy lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ việc quen biết với ông Võ Hoàng P, đồng thời biết ông P muốn xin cho con ruột là Võ Thái S vào ngành công an, nên bị cáo Nguyễn Trường T4 đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông P. Bản thân bị cáo không có việc làm, không có mối quan hệ với lãnh đạo công an tỉnh K nhưng bị cáo đã đưa thông tin giả mạo về bản thân là cán bộ nhà khách Chính phủ, có khả năng xin việc cho con ông P. Từ ngày 21/10/2021 đến ngày 07/11/2021, bị cáo đã 04 lần nhận tiền của ông P tổng cộng là 561.420.000 đồng, để tiêu xài cá nhân mà không thực hiện công việc như đã cam kết với ông P. Bản cáo trạng số 51/CT-VKSKH-P1 ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa truy tố

bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Mặc dù không có khả năng xin việc nhưng bị cáo đưa thông tin giả mạo để bị hại tin tưởng nhằm chiếm đoạt tiền của họ. Bị cáo thực hiện một số hành vi như mua sim rác lập tài khoản zalo tên “A.Nam CA” nhắn tin vào tài khoản zalo tên “Tho H2 noi” của T4 với nội dung là liên hệ với Bộ C cùng với các chi phí để lo trường hợp xin con ông P vào ngành Công an, sau đó T4 chụp màn hình gửi cho ông P để ông P tin tưởng; bị cáo đưa S đi khám sức khỏe, đi nộp hồ sơ cho S. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của cá nhân và cơ quan Nhà nước. Thủ đoạn phạm tội của bị cáo rất tinh vi, làm cho bị hại tin tưởng tuyết đối và dễ dàng giao tiền cho bị cáo. Bị cáo phạm tội nhiều lần nên bị áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại 110.000.000 đồng, nên áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.

Bồi thường dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Võ Hoàng P số tiền 450.000.000 đồng.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Bộ luật Hình sự điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình đối với bị cáo Đặng Trường T.

Xử phạt: bị cáo Đặng Trường T 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 21/7/2023.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đặng Trường T phải bồi thường cho ông Võ Hoàng P số tiền số tiền 450.000.000 đồng.

Quy định: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo Đặng Trường T chậm thực hiện nghĩa vụ về

bồi thường thiệt hại thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền dân sự thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THi hành án dân sự.

  1. Án phí: Bị cáo Đặng Trường T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 22.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1 - TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Trại tạm giam, Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia TT khác;
  • - Lưu hồ sơ; Án văn; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Anh Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Trường Thọ lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger