TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trực và bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.
Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Hồng Linh, Thư ký Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Long – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Trần Văn P; Sinh ngày 01/01/1982 tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: khu phố T, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; CCCD số: [...]; cấp ngày 09 tháng 11 năm 2022; Nơi cấp: Cục C về TTXH; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần L, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1956; Vợ là Lê Thị Â, sinh năm 1982, con: có 02 con (Lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền sự: Không; tiền án: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 11/10/2024 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Bệnh viện T.
+ Người đại diện hợp pháp của Bệnh viện T: Ông Hồ Văn L1, sinh năm 1973; chức vụ: Phó trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện T; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Võ Văn B, sinh năm 2007; Nơi cư trú: khu phố I, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Cháu Trần Đức K, sinh năm 2007; Nơi cư trú: khu phố T, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
- Bảo hiểm Xã hội tỉnh Quảng Trị.
- Bảo hiểm xã hội thành phố H;
- Người đại diện hợp pháp của cháu B: Bà Trần Thị H1, sinh năm 1977; Nơi cư trú: khu phố I, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - là mẹ ruột của cháu B; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của cháu K: Bà Lê Thị Â, sinh năm 1982; Nơi cư trú: khu phố T, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - là mẹ ruột của cháu K; vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của Bảo hiểm Xã hội tỉnh Q: Ông Phạm Chí H2; chức vụ: Trưởng phòng Thanh tra – kiểm tra thuộc Bảo hiểm Xã hội tỉnh Q; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của Bảo hiểm Xã hội thành phố H: Bà Trần Thị Phương M, sinh năm 1976; Chức vụ: Trưởng phòng Thanh tra – Kiểm tra thuộc Bảo hiểm xã hội thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/7/2024, Trần Đức K (sinh ngày 01/01/2007) điều khiển xe mô tô biển số: 74H1–2428 gây tai nạn trên đoạn đường trước địa chỉ số A đường Q, khu phố E, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Do K bị chấn thương phần quai hàm khá nặng nên ngày 14/7/2024, Trần Văn P là bố ruột của K quyết định đưa K đến Bệnh viện T để điều trị. Do lo sợ không đủ tiền để chi trả tiền viện phí nên P đã về nhà chị ruột là Trần Thị H1 tại khu phố I, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị để mượn tiền nhưng không có ai ở nhà. P đi vào phòng khách và thấy thẻ Bảo hiểm y tế của cháu Võ Văn B (con trai của chị H1) để trong tủ trưng bày nên P lấy thẻ Bảo hiểm y tế của B nhằm sử dụng trong quá trình điều trị cho K, rồi đưa Trần Đức K đến Khoa cấp cứu - Bệnh viện T.
Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 14/7/2024 tại Khoa cấp cứu của Bệnh viện T, khi nhân viên y tế yêu cầu cung cấp họ tên bệnh nhân và xuất trình giấy tờ tuỳ thân thì Trần Văn P đã khai bệnh nhân tên Võ Văn B, sinh ngày 20/01/2007, giới tính: Nam, địa chỉ: Khu phố I, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị và xuất trình thẻ Bảo hiểm y tế mã số: HS 4454520073423, mã: 45-108, được Bảo hiểm Xã hội tỉnh Quảng Trị cấp ngày 27/12/2017. Quá trình thăm khám, chữa bệnh của Trần Đức K tại Khoa cấp cứu và K Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ và hàm mặt (TT RHM) thuộc Bệnh viện T; sau đó đều được thực hiện bằng tên bệnh nhân Võ Văn B.
Ngày 29/7/2024, K được xuất viện. Trần Văn P làm thủ tục xuất viện cho K, tổng số tiền điều trị nội trú là 15.503.533 đồng (Mười năm triệu, năm trăm linh ba nghìn, năm trăm ba mươi ba đồng). Do Võ Văn B có tham gia đóng Bảo hiểm y tế nên chỉ nộp viện phí số tiền 3.100.707 đồng (Ba triệu, một trăm nghìn, bảy trăm linh bảy đồng), Bảo hiểm y tế chi trả số tiền 12.402.826 đồng (Mười hai triệu bốn trăm linh hai nghìn tám trăm hai mươi sáu đồng).
Sau khi Trần Đức K xuất viện thì được Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị triệu tập để làm việc liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 13/7/2024 tại thành phố Đ. Quá trình xác minh vụ việc gây tai nạn giao thông của K, Công an thành phố Đ đã đến Bệnh viện T để sao bệnh án điều trị của Khoa thì phát hiện tại Bệnh viện T không có bệnh án của K mà chỉ có bệnh án mang tên Võ Văn B từ ngày 14/7/2024 đến 29/7/2024. Xét thấy, Trần Văn P có dấu hiệu phạm tội “Gian lận bảo hiểm y tế” theo quy định tại Điều 215 Bộ luật hình sự nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H (nay là quận T) thụ lý theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Vật chứng tạm giữ và xử lý vật chứng:
- 01 thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Võ Văn B, Mã số: 4454520073423, Mã 45-108 do Bảo hiểm Xã hội tỉnh quảng Trị cấp ngày 27/12/2024; 01 phiếu thanh toán ra viện, 01 giấy ra viện, 01 giấy hẹn khám lại, 01 giấy chứng nhận phẫu thuật, 01 bệnh án ngày 29/7/2024 đều mang tên Võ Văn B; 01 thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Trần Đức K.
- Trần Văn P giao nộp số tiền 12.402.826 đồng.
Ngày 06/12/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H (nay là quận T) ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Bệnh viện T số tiền 12.402.826 đồng.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Văn P đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Bệnh viện T số tiền 12.402.826 đồng, không ai có yêu cầu gì thêm.
Tại phiên toà, đại diện hợp pháp của Bệnh viện T xét thấy bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, có hoàn cảnh khó khăn, vợ đã bỏ đi, hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Văn P.
Tại bản Cáo trạng số: 20/CT-VKSQTH ngày 09/01/2025, Viện kiểm sát Nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H đã truy tố bị cáo Trần Văn P về tội “Gian lận bảo hiểm y tế” theo điểm b khoản 1 Điều 215 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Thuận Hoá giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Gian lận bảo hiểm y tế”; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 215; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 36 của Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt Trần Văn P từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Võ Văn B, Mã số: 4454520073423, Mã 45-108 do Bảo hiểm Xã hội tỉnh Q cấp ngày 27/12/2024; 01 phiếu thanh toán ra viện, 01 giấy ra viện, 01 giấy hẹn khám lại, 01 giấy chứng nhận phẫu thuật, 01 bệnh án ngày 29/7/2024 đều mang tên Võ Văn B; 01 thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Trần Đức K là các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo và lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cháu Võ Văn B và bà Trần Thị H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; cháu Trần Đức K và bà Lê Thị Â đều vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra thì họ đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án, lời khai của họ không mâu thuẫn với các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, việc vắng mặt của họ cũng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Trên cơ sở lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/7/2024 đến 29/7/2024, tại Bệnh viện T, Trần Văn P đã có hành vi sử dụng thẻ bảo hiểm y tế của Võ Văn B để khám chữa bệnh cho con trai mình là Trần Đức K nhằm hưởng lợi chế độ bảo hiểm y tế số tiền 12.402.826 đồng (Mười hai triệu, bốn trăm linh hai nghìn, tám trăm hai mươi sáu đồng).
Trần Văn P là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được hành vi sử dụng thẻ bảo hiểm y tế của người khác trong quá trình khám chữa bệnh để hưởng chế độ bảo hiểm y tế trái quy định là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Với hành vi nói trên, Trần Văn P đã phạm vào tội “Gian lận bảo hiểm y tế” theo quy định điểm b khoản 1 Điều 215 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát Nhân dân quận Thuận Hoá đã truy tố bị cáo Trần Văn P và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Văn P, thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo Trần Văn P không những gây thiệt hại cho cơ quan Bảo hiểm y tế, Bệnh viện T mà còn ảnh hưởng đến trật tự quản lý của Nhà nước về kinh tế trong lĩnh vực Bảo hiểm. Tuy nhiên, bị cáo P không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình. Hội đồng xét xử nhận thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo P nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, chính sách nhân đạo của Nhà nước.
- Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo Trần Văn P đã khắc phục, bồi thường toàn bộ thiệt hại; có thu nhập không ổn định và hiện đang nuôi con nhỏ nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Võ Văn B, Mã số: 4454520073423, Mã 45-108 do Bảo hiểm Xã hội tỉnh Q cấp ngày 27/12/2017; 01 phiếu thanh toán ra viện; 01 giấy ra viện; 01 giấy hẹn khám lại; 01 giấy chứng nhận phẫu thuật; 01 bệnh án ngày 29/7/2024 đều mang tên Võ Văn B; 01 thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Trần Đức K là các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bệnh viện T đã nhận lại số tiền bị thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Các vấn đề khác:
- Đối với Trần Đức K (con ruột của Trần Văn P) là bệnh nhân được điều trị dưới tên Võ Văn B. Toàn bộ quá trình điều trị tại Bệnh viện T từ ngày 14/7/2024 đến ngày 29/7/2024, K bị gãy xương hàm hai bên nên không thể nói chuyện được, do đó mọi việc khai báo thông tin của K do P thực hiện. Bản thân K không biết việc P sử dụng thẻ Bảo hiểm y tế của Võ Văn B để khai báo trong quá trình thăm, khám điều trị cho K. Do đó, Trần Đức K không phải là đồng phạm của Trần Văn P trong vụ án.
- Đối với Võ Văn B (cháu ruột Trần Văn P) là người có tên trong thẻ Bảo hiểm y tế được P sử dụng để phạm tội và bà Trần Thị H1 (chị ruột Trần Văn P) là mẹ ruột của Võ Văn B. Bà H1 và Võ Văn B không biết việc P lấy thẻ Bảo hiểm y tế của B để sử dụng khai báo thăm, khám điều trị cho K tại Bệnh viện T từ ngày 14/7/2024 đến ngày 29/7/2024 và không tham gia, giúp sức cho P thực hiện hành vi phạm tội, do đó cháu Võ Văn B và bà Trần Thị H1 không phạm tội.
- Đối với Bệnh viện T là đơn vị tiếp nhận bệnh nhân thăm khám, điều trị có thẻ Bảo hiểm y tế nhưng không phát hiện hành vi sử dụng thẻ Bảo hiểm y tế của người khác, để xảy ra hành vi phạm tội của P. Do lúc K nhập viện cấp cứu bị chấn thương làm biến dạng vùng mặt nên các nhân viên y tế không thể nhận dạng đúng người. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H (nay là quận T) không xem xét trách nhiệm của các cá nhân là nhân viên y tế đã tiếp nhận bệnh nhân trong vụ án trên là có căn cứ.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Gian lận bảo hiểm y tế".
- Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 215; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Võ Văn B, Mã số: 4454520073423, Mã 45-108 do Bảo hiểm Xã hội tỉnh Q cấp ngày 27/12/2017; 01 phiếu thanh toán ra viện; 01 giấy ra viện; 01 giấy hẹn khám lại; 01 giấy chứng nhận phẫu thuật; 01 bệnh án ngày 29/7/2024 đều mang tên Võ Văn B; 01 thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Trần Đức K.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên: Buộc bị cáo Trần Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn P 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Trần Văn P cho UBND phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có trách nhiệm giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự 2019.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương Hồng |
Bản án số 05/2025/TLST-HS ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ về gian lận bảo hiểm y tế
- Số bản án: 05/2025/TLST-HS
- Quan hệ pháp luật: Gian lận bảo hiểm y tế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo Trần Văn Phước phạm tội " gian lận bảo hiểm y tế " khung hình phạt tại điểm b khoản 1 điều 215 bộ luật hình sự 2015
