Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN XƯƠNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 27-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Bường.
  2. Ông Nguyễn Văn Chuyên.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Mai Duy Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và điểm cầu thành phần tại trụ sở Công an huyện K, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 21/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST- HS ngày 14/02/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B

sinh ngày 14/8/2004 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 09/12; con ông: Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ, có 01 con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/10/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Thái Bình. Có mặt

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 2005; nơi cư trú: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị B1, sinh năm 2001; nơi cư trú: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt
  2. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt

- Người làm chứng:

  1. Chị Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 2005; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt
  2. Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 2005; nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt

* Tại điểm cầu thành phần:

1. Những người tiến hành tố tụng:

  • - Cán bộ, chiến sỹ nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Thái Bình.
  • - Kiểm sát viên (công chức khác) Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
  • - Thư ký (công chức khác) Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

2. Những người tham gia tố tụng: Bị cáo Nguyễn Văn B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2020, Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Thị B1 (thường gọi là Nguyễn Thị L1) không đăng ký kết hôn, chung sống như vợ chồng và có một con chung là cháu Nguyễn Gia L2, sinh ngày 03/01/2023 (thường gọi là K, hiện đang do bố mẹ của Nguyễn Văn B chăm sóc). Tháng 11/2023, chị B1 đi lao động tại Trung Quốc, tiết kiệm được số tiền 108.000.000 đồng và gửi về cho chị Nguyễn Thị T1 (là cô họ của chị B1) giữ hộ. Đến tháng 5/2024 chị B1 liên lạc với B qua điện thoại, nói cho B biết về việc B1 đi làm tiết kiệm và đang nhờ chị T1 giữ hộ số tiền 108.000.000 đồng, chị B1 nói do không tin tưởng nên không gửi số tiền trên cho B, sau đó do chị B1 mất điện thoại nên B không liên lạc được với chị B1.

Tháng 8/2024, do không có việc làm, không có tiền chi tiêu nên B nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền mà chị B1 gửi chị T1 giữ hộ. Bảo kiểm tra chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS trước đây chị B1 từng sử dụng (điện thoại của chị Nguyễn Thị T, mẹ đẻ của B) thì thấy trên ứng dụng của điện thoại còn lưu thông tin tài khoản “Nguyễn L1” (tài khoản mạng xã hội Facebook messenger của chị B1). B đăng nhập vào tài khoản “Nguyễn L1” rồi tự nhận là chị B1 để nhắn tin đến tài khoản "Tươi Nguyễn" của chị T1 với mục đích lừa đảo chiếm đoạt số tiền mà chị B1 nhờ chị T1 giữ hộ. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 26/8/2024, B sử dụng tài khoản “Nguyễn L1” nhắn tin tới tài khoản “Tươi Nguyễn” của chị T1 với nội dung “Cô ơi thằng Khoai nhà cháu 29 này mổ tràn dịch ở dái, với nhiều khoản hai vợ chồng cháu mới biết được, cô chuyển giúp cháu cho B 17 triệu nhé”. B tiếp tục sử dụng tài khoản “Nguyễn L1” nhắn tin đến tài khoản của B là “Bảo Long” với nội dung thông báo chị B1 đã nhờ chị T1 chuyển tiền cho B, rồi B chụp ảnh màn hình tin nhắn trò chuyện giữa hai tài khoản này gửi đến cho chị T1 xem để chị T1 tin tưởng là B1 yêu cầu chị T1 chuyển số tiền 17 triệu đồng chuyển cho B. Sau đó, B sử dụng tài khoản messenger của mình nhắn tin yêu cầu chị T1 chuyển số tiền 17 triệu đồng đến số tài khoản 000012101979 - ngân hàng Q mang tên Nguyễn Thị T (mẹ đẻ của B). Do chị T1 tin tưởng chị B1 đang sử dụng tài khoản messenger “Nguyễn L1” nhắn tin yêu cầu chị T1 chuyển tiền cho B nên ngày 26/8/2024 chị T1 đã chuyển số tiền 17.000.000 đồng đến tài khoản của chị Nguyễn Thị T. Sau khi nhận được tiền, B đã mượn thẻ ngân hàng của chị T để đi rút số tiền 17.000.000 đồng, sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ hai: Ngày 31/8/2024, B tiếp tục sử dụng tài khoản messenger “Nguyễn L1” của chị B1 để giả danh chị B1 và nhắn tin qua messenger yêu cầu chị T1 chuyển tiếp số tiền 23.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của chị T. Do chị T1 không biết B giả danh chị B1 nên chị T1 đã chuyển số tiền 23.000.000 đồng cho B. Sau khi nhận được tiền B đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Lần thứ 3: Sợ chị T1 nghi ngờ nên B đã liên hệ với chị Nguyễn Ngọc Á (là bạn của B) nhờ chị Á mượn giúp B số tài khoản ngân hàng có tên “Nguyễn Thị L1” (T2 với tên gọi thường ngày của chị Nguyễn Thị B1) để nhận hộ tiền. B không nói cho chị Á biết mục đích nhờ mượn tài khoản để làm gì. Chị Á đã giới thiệu bạn của mình là chị Nguyễn Thị L1 cho B. Thông qua chị Á, B liên hệ trực tiếp và được chị L1 đồng ý cho mượn tài khoản ngân hàng số tài khoản 19050338177011, ngân hàng T3, mang tên NGUYEN THI LINH của chị L1 để nhận tiền hộ. Ngày 15/9/2024, B sử dụng tài khoản messenger của chị B1 nhắn tin cho chị T1, nội dung nhờ chị T1 chuyển tiền đến số tài khoản mang tên L1. Chị T1 tin tưởng chị B1 là người đang nhắn tin và yêu cầu chuyển tiền nên đã chuyển số tiền 50.000.000 đồng đến tài khoản mang tên NGUYEN THI LINH. Sau khi nhận được tiền, chị L1 đã chuyển số tiền 50.000.000 đồng đến tài khoản của chị T theo hướng dẫn của B. B đi rút số tiền trên, sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Đến ngày 18/9/2024, chị B1 về Việt Nam và phát hiện việc B đã giả danh mình để chiếm đoạt số tiền 90.000.000 đồng. Chị B1 yêu cầu B phải hoàn trả cho chị số tiền trên. Khoảng cuối tháng 9/2024, B đã trả số tiền 16.800.000 đồng cho chị B1. Ngày 09/10/2024, chị B1 và chị T1 làm đơn tố cáo hành vi của B đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, Thái Bình.

Cáo trạng số 10/CT-VKSKX ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã truy tố Nguyễn Văn B về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự .

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt: Nguyễn Văn B từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2024.

Về bồi thường thiệt hại: Không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho chị Nguyễn Thị T 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng đen, đã qua sử dụng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Các chứng cứ buộc tội bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Sao kê các giao dịch ngân hàng của bị hại; sao kê tài khoản ngân hàng; ảnh chụp màn hình nội dung cuộc nói chuyện giữa tài khoản messenger “Tươi N” với tài khoản messenger “Bảo Long” và tài khoản messenger “Nguyễn L1”; biên bản xem xét dữ liệu điện thoại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2024, Nguyễn Văn B đã có hành vi đăng nhập trái phép tài khoản messenger của chị Nguyễn Thị B1 (là người yêu cũ, có 01 con chung với B), giả danh là chị B1 rồi nhắn tin cho chị Nguyễn Thị T1 (là cô họ của chị B1) nhờ chị T1 chuyển số tiền chị B1 đang nhờ chị T1 giữ hộ cho B. Do tin tưởng người nhắn tin và yêu cầu chuyển tiền là chị B1, chị T1 đã 03 lần chuyển tổng số 90.000.000 đồng qua tài khoản ngân hàng cho B. Sau khi chiếm đoạt được số tiền trên, B đã chi tiêu cá nhân hết. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự .

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

...”

[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ bằng thủ đoạn gian dối, gây mất trật tự trị an trong xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân.

[4] Đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo phạm tội nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường 16.800.000 đồng cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã trả lại cho chị B1 số tiền chiếm đoạt là 16.800.000.000 đồng, số tiền còn lại là 73.200.000 đồng, chị T1, chị B1 không yêu cầu bị cáo phải trả lại. Xét yêu cầu trên của chị T1, chị B1 là tự nguyện, Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Về xử lý vật chứng, tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu vàng đen đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T. Chị T không biết việc bị cáo sử dụng chiếc điện thoại trên để liên lạc chiếm đoạt tài sản của chị B1, do đó cần trả lại cho chị T.

[9] Về các vấn đề khác trong vụ án:

Chị Nguyễn Ngọc Á, chị Nguyễn Thị L1 không biết mục đích B mượn tài khoản ngân hàng để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, không được hưởng lợi ích từ việc cho bị cáo Nguyễn Văn B mượn tài khoản ngân hàng D không có căn cứ xem xét xử lý đối với chị Á và chị L1.

Chị Nguyễn Thị T cho bị cáo Nguyễn Văn B mượn điện thoại di động, thẻ và tài khoản ngân hàng của mình, tuy nhiên chị T không biết mục đích Bảo mượn và sử dụng điện thoại di động, thẻ và tài khoản ngân hàng, thẻ ngân hàng để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, không được hưởng lợi ích gì từ việc cho mượn do đó không có căn cứ xem xét xử lý đối với chị T.

[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2024.
  3. Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã trả lại cho chị Nguyễn Thị B1 số tiền 16.800.000 đồng (mười sáu triệu tám trăm nghìn đồng). Ghi nhận việc chị Nguyễn Thị T1, chị Nguyễn Thị B1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền còn lại là 73.200.000 đồng (bảy mươi ba triệu hai trăm nghìn đồng).
  4. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone XS màu vàng đen, đã qua sử dụng.

    (Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản kê biên đề ngày 21/01/2025).

  5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    “Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/02/2025. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan CSĐT, cơ quan THAHS Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình;
  • - Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu HS, HСТР

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyễn Văn Bảo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger