Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/DS-ST

Ngày: 27/02/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Văn Tới

2. Bà Nguyễn Thùy Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sáu – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 189/2023/TLST-DS ngày 12/7/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định gia hạn thời hạn xét xử số 118a/2023/QĐ-GHXX ngày 10/11/2023, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 03a/2024/QÐST-DS ngày 10/01/2024; quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự số 55a/2024/QĐ-DS ngày 11/11/2024; quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-DS ngày 10/01/2025 và quyết định hoãn phiên toà số 08/2025/QÐST-DS ngày 10/02/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V (Ngân hàng V1); Trụ sở chính: 89 L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền ông Ngô Chí D: Bà Thái Thị Hồng H, chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm T3 (theo Giấy ủy quyền số 42A/2022/UQ – HĐQT ngày 01/6/2022 của Chủ tịch HD9QT Ngân hàng TMCP V). Địa chỉ: Tầng C - B Q, phường A, quận G, Tp ..

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Công ty Cổ phần M2; Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, Số I D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần M2: Ông Bùi Công T, chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Công T: Ông Nguyễn Quốc T1, chức vụ: Phó Giám đốc. Theo văn bản ủy quyền số 88/2024/UQ-MARS ngày 23/02/2024;

Người đại diện theo ủy quyền lại của ông Nguyễn Quốc T1: Ông Trần Vi Quang M, chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ. Theo văn bản ủy quyền số 2322/2024/UQ-MARS ngày 26/10/2024 (có mặt)

Bị đơn:

1/Ông Nguyễn Lượng Hồng A, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

2/Bà Phan Thị Huyền T2, sinh năm 1996 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 01/6/2023 cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V ủy quyền cho bà Thái Thị Hồng H trình bày: Ngày 05/02/2021, ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 ký Hợp đồng tín dụng số LN2102033372262 với Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh B theo các nội dung như sau: Số tiền vay: 1.350.000.000 đồng, mục đích vay: Tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình, lãi suất 11%/năm, thời hạn vay vốn: 120 tháng, từ ngày 05/02/2021 đến ngày 05/02/2031, phương thức trả nợ: lãi và gốc trả hàng tháng 11.250.000₫ dư nợ : 1.096.283.156 đồng. Hiện khoản vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi và gốc từ ngày 01/6/2023 đến nay. Tính đến ngày 01/6/2023, vợ chồng ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 còn nợ Ngân hàng chúng tôi tổng số tiền là 1.176.443.929đồng, trong đó nợ gốc còn phải thanh toán là 1.096.283.156 đồng đồng, nợ lãi 80.160.773đồng. Để đảm bảo cho khoản vay trên ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 đã thế chấp Bất động sản tọa lạc tại Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận thửa đất số 724, diện tích 100m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 561975 do UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 29/12/2016 theo Hợp đồng thế chấp ngày 05/02/2021 đã được công chứng số 617, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng C tỉnh Bình Thuận, đăng ký giao dịch đảm bảo theo qui định. Do vợ chồng ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 không có thiện chí trả nợ. Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần V yêu cầu giải quyết: Buộc vợ chồng vợ chồng ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 phải trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền là 1.176.443.929đồng, trong đó nợ gốc còn phải thanh toán là 1.096.283.156 đồng đồng, nợ lãi 80.160.773 đồng và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ. Trường hợp vợ chồng ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 không trả được nợ, Ngân hàng kính đề nghị Toà án Nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc cho Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý phát mãi tài sản tọa lạc tại Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Hợp đồng thế chấp ngày 05/02/2021 đã được công chứng số 617, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng C, Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận để thu hồi nợ.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng thương mại cổ phần V là Công ty Cổ phần M2 trình bày: Theo Hợp đồng mua bán nợ số 03/2023/VPB-MARS cùng các Phụ lục đính kèm ký ngày 30/12/2023 giữa Ngân hàng TMCP V (V1) với Công ty TNHH Một thành viên M2 (M2) thì V1 đồng ý bán và M1 đồng ý mua toàn bộ khoản nợ của khách hàng vay là ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác theo Hợp đồng tín dụng số LN2102033372262 với Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh B mà ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 đã ký kết với V1. Ngày 16/5/2024, Công ty TNHH MTV M2 đã được chuyển đổi thành Công ty Cổ phần M2, với mã số doanh nghiệp và trụ sở của Công ty giữ nguyên. Việc thay đổi mô hình Công ty không làm ảnh hưởng đến các giao dịch, quan hệ, đối tác, trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ cũng như việc thực hiện các hợp đồng, giao dịch hiện tại. Theo đó, V1 đã chuyển toàn bộ quyền sở hữu, quyền lợi, lợi ích của V1 đối với các khoản vay này cho M1, M1 được kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của V1 tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho đến khi giải quyết xong toàn bộ khoản nợ. nay Công ty Cổ phần M2 đề nghị Tòa án giải quyết các nội dung sau: Buộc ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 phải thanh toán cho M1 số tiền là: 1.458.232.555đồng, trong đó nợ gốc còn phải thanh toán là 1.096.283.156đồng, nợ lãi 361.949.399 đồng và lãi phát sinh theo quy định của pháp luật cho đến khi trả xong nợ (tạm tính đến hết ngày 22/02/2025). Trường hợp, ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh, thì M1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay là: toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 724; tờ bản đồ số 84, khu dân cư H, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận số CE 561975, số vào sổ cấp GCN: CH 04503 do UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 29/12/2016. Đăng ký thay đổi chủ sở hữu/sử dụng lần cuối ngày 14/6/2017. Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm nêu trên mà ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 vẫn chưa trả hết nợ thì vẫn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại cho M1.

Bị đơn ông Nguyễn Lượng Hồng A vắng mặt nhưng tại bản khai ngày 22/11/2024 trình bày: Theo lời trình bày của Ngân hàng TMCP V là đúng, ngày 05/02/2021 ông và bà Phan Thị Huyền T2 có vay của Ngân hàng TMCP V số tiền 1.350.000.000đ, cuối năm 2021 ông bị tai nạn giao thông thương tật 40%, nay không có tiền trả cho Ngân hàng xin được giãn nợ 36 tháng sau đó doanh nghiệp ổn định cô, dì, chú, bác cho tiền ông sẽ trả nợ cho ngân hàng.

Bị đơn bà Phan Thị Huyền T2 trình bày: Theo lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần M2 là đúng. Hai vợ chồng bà cùng nhau đi vay Ngân hàng V1 số tiền 1.350.000.000 đồng ngày 05/02/2021. Để đảm bảo khoản vay trên, vợ chồng bà đã thế chấp cho Ngân hàng diện tích đất và tài sản nhà cấp 4A trên đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CE 561975, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 04503 do UBND huyện H cấp ngày 29/12/2016. Mục đích vay là phục vụ cho việc kinh doanh làm ăn. Sau thời gian kinh doanh thua lỗ, vợ chồng bà không có khả năng trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng V1. Hiện nay đã trả 253.716.844đ, còn lại 1.096.283.156đ chưa trả. Nay Công ty cổ phần M2 là Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng V1 yêu cầu bà và ông Nguyễn Lượng Hồng A trả cho Công ty cổ phần M2 1.458.232.555đồng, trong đó nợ gốc còn phải thanh toán là 1.096.283.156đồng, nợ lãi 361.949.399 đồng và phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp ngày 05/02/2021 đã được công chứng số 617, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng C, Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận thì bà đồng ý.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V. Buộc ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 phải trả cho Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền nợ là 1.458.232.555đồng, trong đó nợ gốc còn phải thanh toán là 1.096.283.156đồng, nợ lãi 361.949.399 đồng và lãi tiếp theo. Trường hợp ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 không thanh toán được nợ thì Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp của ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 là: 01 căn nhà cấp 4A tầng trệt diện tích 75m² (ngang 5m dài 15m) và gác lửng diện tích 55m² (ngang 5m dài 11m) xây dựng trên thửa đất số 724, diện tích 100m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 561975 do UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 29/12/2016 theo Hợp đồng thế chấp ngày 05/02/2021 đã được công chứng số 617, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng C tỉnh Bình Thuận đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 08/02/2021 để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên hòa giải để các bên đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau. Các đương sự đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: Sự vắng mặt của ông Nguyễn Lượng Hồng A không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa, ông Nguyễn Lượng Hồng A đã được Tòa án giao các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng vẫn cố tình vắng mặt, chứng tỏ đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng, không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Lượng Hồng A.

[1]Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-DS ngày 10/01/2025 đã xác định hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, qua thẩm tra tài liệu chứng cứ và các đương sự xác định yêu cầu của mình tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại xã H, huyện H nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc có thẩm quyền giải quyết.

[2]Xét về nội dung: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số Hợp đồng tín dụng số LN2102033372262 ngày 05/02/2021 do hai bên thỏa thuận lập thì vào ngày 05/02/2021 ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 có vay tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V thể hiện số tiền gốc 1.350.000.000đ (một tỷ bà trăm năm mươi triệu đồng), thỏa thuận lãi suất trong hạn là 11%/năm, lãi quá hạn là 150% lãi trong hạn, thời hạn trả là 120 tháng. Do đó, bị đơn có nợ nguyên đơn tiền gốc 1.350.000.000đ được các bên ký kết không trái với quy định của pháp luật nên có đủ cơ sở xác định hợp đồng vay tiền có thời hạn và có lãi giữa các bên đã phát sinh hiệu lực pháp luật. Đến hạn trả nợ, ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 trả nợ gốc 253.716.844đ, còn lại 1.096.283.156đ chưa trả. Nay tính đến ngày 22/02/2025, ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng cộng là 1.458.232.555đồng, trong đó nợ gốc còn phải thanh toán là 1.096.283.156đồng, nợ lãi 361.949.399 đồng.

[3]Xét về chủ thể khởi kiện: Căn cứ Hợp đồng mua bán nợ số 03/2023/VPB-MARS ngày 30/12/2023 thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần V đã bán toàn bộ số nợ của ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 cho Công ty Cổ phần M2 nên Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V theo quy định tại Khoản 4 Điều 74 Bộ luật Tống tụng dân sự. Do đó, Công ty Cổ phần M2 yêu cầu ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 trả cho Công ty Cổ phần M2 1.458.232.555đồng, trong đó nợ gốc còn phải thanh toán là 1.096.283.156đồng, nợ lãi 361.949.399 đồng và lãi phát sinh theo quy định của pháp luật cho đến khi trả xong nợ là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]Xét về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V: Tài sản thế chấp trong Hợp đồng thế chấp ngày 05/02/2021 đã được công chứng số 617, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng C tỉnh Bình Thuận giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V với ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 là tài sản của ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2, khi hai bên tham gia giao dịch, ký kết hợp đồng thế chấp có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung giao dịch hoàn toàn tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội, được lập bằng văn bản, có công chứng tại Phòng công chứng Số A tỉnh Bình Thuận và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 08/02/2021 nên có hiệu lực pháp luật buộc các bên phải thi hành. Do đó, yêu cầu của Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V về việc đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản là: 01 căn nhà cấp 4A tầng trệt diện tích 75m² (ngang 5m dài 15m) và gác lửng diện tích 55m² (ngang 5m dài 11m) xây dựng trên thửa đất số 724, diện tích 100m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 561975 do UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 29/12/2016 theo Hợp đồng thế chấp ngày 05/02/2021 đã được công chứng số 617, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng C tỉnh Bình Thuận, đã đăng ký giao dịch đảm bảo theo qui định để thu hồi nợ là có cơ sở pháp luật chấp nhận.

[5]Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay là thỏa đáng phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[6]Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 buộc trả tiền cho nguyên đơn nên phải chịu án phí và lệ phí theo quy định pháp luật, yêu cầu của nguyên đơn chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí và lệ phí Tòa án đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 320, Điều 323, Điều 351, Điều 352, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 27, Điều 45 Luật Đất đai năm 2024. Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

2.Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V. Buộc ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 phải trả cho Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền nợ là 1.458.232.555đồng, trong đó nợ gốc còn phải thanh toán là 1.096.283.156đồng, nợ lãi 361.949.399 đồng.

“Kể từ ngày tiếp theo của ngày 22/02/2025 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V cho vay".

Trường hợp ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 không thanh toán được nợ thì Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp của ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 là: 01 căn nhà cấp 4A tầng trệt diện tích 75m² (ngang 5m dài 15m) và gác lửng diện tích 55m² (ngang 5m dài 11m) xây dựng trên thửa đất số 724, diện tích 100m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 561975 do UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 29/12/2016 theo Hợp đồng thế chấp ngày 05/02/2021 đã được công chứng số 617, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng C tỉnh Bình Thuận đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 08/02/2021 để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

3.Về án phí, lệ phí: Căn cứ: Điều 145, Điều 147, Điều 163; Điều 164; Điều 165 và Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

- Ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 phải chịu 55.747.000₫ (năm mươi lăm triệu bảy trăm bốn mươi bảy ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 23.647.000đ (hai mươi ba triệu sáu trăm bốn mươi bảy ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0019593 ngày 12/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V không phải chịu lệ phí xem xét tại chỗ. Số tiền tạm ứng lệ phí xem xét tại chỗ là 2.000.000đ do Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V đã nộp tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận do ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 hoàn trả.

- Ông Nguyễn Lượng Hồng A và bà Phan Thị Huyền T2 phải chịu 2.000.000₫ (hai triệu đồng) lệ phí xem xét tại chỗ để hoàn trả cho Công ty Cổ phần M2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

4.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/02/2025). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết tại địa phương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Thuận;
  • -VKSND huyện Hàm Thuận Bắc;
  • -Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu: hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ung Thanh Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 12/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger