Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 12/2025/HSPT

Ngày 26/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Ánh

Các Thẩm phán: Ông Bùi Văn Tuấn.

Ông Nguyễn Nhật Duật.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Thị Lan Hương, cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Trần Thị Minh Hảo, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 11/2021/TLPT - HS ngày 05/02/2025 đối với bị cáo Trần Anh Đ, do có kháng cáo của bị cáo Trần Anh Đ đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 164/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Bị cáo có kháng cáo:

Trần Anh Đ, Tên gọi khác: không; sinh ngày 08 tháng 3 năm 1984, tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; đoàn thể: là đảng viên Đ2, từ ngày 19/7/2016 có giấy giới thiệu chuyển sinh hoạt Đảng về Đảng ủy Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C nhưng không chuyển sinh hoạt Đảng (Thành ủy C1 đã ban hành Quyết định số 1120-QĐ/TU ngày 23/12/2024 xóa tên trong danh sách đảng viên); trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn P và bà: Bùi Thị N; có vợ: Lục Thị L, sinh năm 1991 và con: có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú ngày 05/8/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. Có mặt.

Ngoài ra còn có 02 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Anh Đ quen biết Nông Thị H và Nguyễn Thị Q. H, Q đều mở quán bán nước chè tại cửa nhà ở phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Từ khoảng tháng 01/2024, trong khi bán nước, H, Q bán thêm số lô, đề, ba càng, xiên (gọi tắt là số lô, đề) cho khách qua đường và một số người gần nhà để kiếm lời. H và Q đều thực hiện cách thức bán do người chơi sử dụng điện thoại nhắn tin, gọi điện thoại báo số lô, đề mua hoặc trực tiếp viết giấy “phơ”. Tiền thắng của những người chơi H, Q trực tiếp thanh toán trúng thưởng bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản ngân hàng. Do biết H, Q đều bán lô, đề nên Đ cũng mua lô, đề của cả hai người. Tất cả thống nhất cách thức đánh lô, đề như sau: lấy kết quả xổ số miền B cùng ngày làm căn cứ xác định trúng thưởng.

Hình thức mua số đề:

người mua số đề chọn số bất kỳ từ hai con số từ 00 đến 99 để mua, một điểm đề là 1.000 đồng, nếu kết quả hai số cuối của giải đặc biệt trùng với số đề người mua đã chọn, thì người mua được trả gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra mua số đề đó. Đối với những người quen khi mua 10 điểm số đề thì được khuyến mại 02 điểm.

Hình thức mua số ba càng:

cách chơi tương tự như mua số đề, nhưng áp dụng với ba số cuối của giải đặc biệt, nếu thắng thì người mua được trả gấp 400 lần số tiền đã mua số ba càng đó.

Hình thức mua số lô:

người mua số lô chọn bất kỳ từ hai con số từ 00 đến 99 để mua, mỗi điểm tương ứng với 23.000 đồng hoặc 22.000 đồng với những người quen, nếu hai số cuối của tất cả các giải xổ số trùng với số lô người mua đã chọn, thì người mua thắng bạc và được trả 80.000 đồng/1 điểm lô. Nếu số đã chọn trùng hai số cuối các giải trở lên, thì người mua được hưởng tương ứng với số lần trùng.

Hình thức mua số xiên:

người mua chọn hai số có 2 chữ số, ba số có hai chữ số hoặc bốn số có hai chữ số bất kỳ từ 00 đến 99 để mua (gọi là xiên 2, xiên 3, xiên 4), mỗi điểm tương ứng với 10.000 đồng. Nếu hai số, ba số hoặc bốn số bất kỳ trùng với hai số cuối của hai trong các giải thưởng xổ số (ba giải đối với xiên 3, bốn giải đối với xiên 4), thì người mua được trả gấp 10 lần số tiền đối với xiên 2; gấp 40 lần đối với xiên 3 và gấp 100 lần đối với xiên 4.

Do nhận được đơn tố giác tội phạm, ngày 05/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã triệu tập Nguyễn Thị Q. Q đã đến Công an đầu thú và giao nộp: 01 điện thoại Samsung Galaxy A51 có sim số 0971.593.495 và 0985.201.410; 03 tệp giấy kích thước (10x7)cm: 02 tệp bên trong lần lượt có 05 tờ, 08 tờ giấy viết tay bằng mực đen và 01 tệp bên trong có giấy trắng; 15 tờ giấy in kết quả xổ số; 01 tờ giấy than, 01 quyển vở kích thước (25x18)cm và số tiền 10.090.000 đồng. Trong điện thoại thể hiện ngày 05/8/2024 có tin nhắn mua lô, đề của Trần Anh Đ.

Sau khi biết Q đến Công an thành phố C làm việc, Trần Anh Đ đã đến Công an đầu thú và giao nộp: 01 điện thoại Nokia 1280 có sim số 0965.236.328 và 01 máy tính bảng S A7 có sim số 0978.735.580. Kết quả kiểm tra điện thoại và máy tính bảng của Đ có mua số lô, đề của Nông Thị H.

Cơ quan điều tra triệu tập H. H đến Công an đầu thú và giao nộp: 01 điện thoại Iphone 8 plus có sim số 0387.502.882; 01 điện thoại OPPO A94 có sim số 0899.209.416; 01 tập kết quả xổ số 96 tờ; 02 tập giấy: 01 tập có 38 tờ, 01 tập có 14 tờ kích thước (7x10)cm được viết chữ số bằng bút mực xanh; 01 quyển vở học sinh có 02 trang viết chữ số bằng bút mực xanh và số tiền 4.000.000 đồng.

Tại các bản Kết luận giám định số 1659, 1660 ngày 31/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: chữ viết trong 02 tệp giấy và 01 tờ giấy gửi giám định của Nguyễn Thị Q so với chữ viết của Nguyễn Thị Q gửi giám định do cùng một người viết ra (trừ các chữ “Nguyễn Văn H1”, chữ viết tại các dòng “C, ngày ... tháng ... năm ...”). Không đủ cơ sở kết luận chữ ký trong các tài liệu cần giám định của Q. Chữ viết, chữ ký trong 02 tệp giấy gửi giám định của Nông Thị H so với chữ viết, chữ ký của Nông Thị H do cùng một người ký, viết ra (trừ các chữ “Nguyễn Văn Đ1” và chữ viết tại các dòng “..., ngày ... tháng ... năm ...”).

Căn cứ các tin nhắn trên điện thoại thu giữ, các phơ đề và đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền B, xác định Q, H, Đ và những người khác đánh bạc dưới hình thức số lô, đề như sau:

  1. Nguyễn Thị Q đánh bạc với Trần Anh Đ và những người khác vào ngày 05/8/2024.

    Quế bán cho Đ 180 điểm lô là 4.140.000 đồng; bán cho anh Đỗ Duy T 100 điểm lô, 462 điểm đề, 30 điểm ba càng, tương ứng với số tiền 2.792.000 đồng và ghi phơ cho những người khác 1.105 điểm đề, 250 điểm lô, 50 điểm ba càng, tương ứng với số tiền 6.875.000 đồng. Cùng ngày, Q đầu thú và giao nộp vật chứng trước khi mở thưởng xổ số. Như vậy, số tiền Q đánh bạc ngày 05/8/2024 là: 4.140.000 đồng + 2.792.000 đồng + 6.875.000 đồng = 13.807.000 đồng.

  2. Nông Thị H đánh bạc với Trần Anh Đ và những người khác:

    Trong thời gian từ ngày 01/6/2024 đến ngày 05/8/2024, Nông Thị H đã đánh bạc dưới hình thức bán số lô, đề có số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên với Trần Anh Đ, bà Từ Thị G (mẹ H) và những người khác như sau:

    • Ngày 01/6/2024, H bán cho Đ 120 điểm lô và 100 điểm đề, tương ứng với số tiền 2.880.000 đồng. Trúng thưởng 80 điểm lô là 6.400.000 đồng. Số tiền đánh bạc của H và Đ là: 2.880.000 đồng + 6.400.000 đồng = 9.280.000 đồng.
    • Ngày 03/6/2024, H bán cho Đ 120 điểm lô, tương ứng với số tiền 2.760.000 đồng. Trúng thưởng 60 điểm lô là 4.800.000 đồng. Số tiền đánh bạc của H và Đ là: 2.760.000 đồng + 4.800.000 đồng = 7.560.000 đồng.
    • Ngày 04/6/2024, H bán cho Đ 240 điểm lô, 05 điểm xiên 3, tương ứng với số tiền 5.570.000 đồng. Trúng thưởng 120 điểm lô là 9.600.000 đồng. Số tiền đánh bạc của H và Đ là: 5.570.000 đồng + 9.600.000 đồng = 15.170.000 đồng.
    • Ngày 05/6/2024, H bán cho Đ 180 điểm lô, 60 điểm đề, 50 điểm ba càng, tương ứng với số tiền 4.250.000 đồng. Trúng thưởng 60 điểm lô là 4.800.000 đồng. Số tiền đánh bạc của H và Đ là: 4.250.000 đồng + 4.800.000 đồng = 9.050.000 đồng.
    • Ngày 06/6/2024, H bán cho Đ 240 điểm lô, 60 điểm đề, tương ứng với số tiền 5.580.000 đồng. Trúng thưởng 60 điểm lô là 4.800.000 đồng. Số tiền đánh bạc của H và Đ là: 5.580.000 đồng + 4.800.000 đồng = 10.380.000 đồng.
    • Ngày 07/6/2024, H bán cho Đ 100 điểm lô, tương ứng với số tiền 2.300.000 đồng. Trúng thưởng 40 điểm lô là 3.200.000 đồng. Số tiền đánh bạc của H và Đ là: 2.300.000 đồng + 3.200.000 đồng = 5.500.000 đồng.
    • Ngày 08/6/2024, H bán cho Đ 120 điểm lô, tương ứng với số tiền 2.760.000 đồng. Trúng thưởng 80 điểm lô là 6.400.000 đồng. Số tiền đánh bạc của H và Đ là: 2.760.000 đồng + 6.400.000 đồng = 9.160.000 đồng.
    • Ngày 10/6/2024, H bán cho Đ 160 điểm lô, tương ứng với số tiền 3.680.000 đồng. Trúng thưởng 40 điểm lô là 3.200.000 đồng. Số tiền đánh bạc của H và Đ là: 3.680.000 đồng + 3.200.000 đồng = 6.880.000 đồng.
    • Ngày 13/6/2024, H bán cho Đ 210 điểm lô, tương ứng với số tiền 4.830.000 đồng. Trúng thưởng 140 điểm lô là 11.200.000 đồng. Số tiền đánh bạc của H và Đ là: 4.830.000 đồng + 11.200.000 đồng = 16.030.000 đồng.
    • Ngày 14/6/2024, H bán cho Đ 180 điểm lô, tương ứng với số tiền 4.140.000 đồng. Trúng thưởng 30 điểm lô là 2.400.000 đồng. Số tiền đánh bạc của H và Đ là: 4.140.000 đồng + 2.400.000 đồng = 6.540.000 đồng.
    • Ngày 18/7/2024, H bán cho Đ 240 điểm lô, tương ứng với số tiền 5.520.000 đồng. Trúng thưởng 80 điểm lô là 6.400.000 đồng. Số tiền đánh bạc của H và Đ là: 5.520.000 đồng + 6.400.000 đồng = 11.920.000 đồng.
    • Ngày 19/7/2024, H bán cho Đ 250 điểm lô, 120 điểm đề, tương ứng với số tiền 5.870.000 đồng. Không trúng thưởng. Số tiền đánh bạc của H và Đ là 5.870.000 đồng.
    • Ngày 27/7/2024, H bán cho Đ 60 điểm lô, tương ứng với số tiền 1.380.000 đồng; ghi phơ cho bà G 120 điểm đề, 05 điểm xiên 2,05 điểm xiên 3, tương ứng với số tiền 220.000 đồng và ghi phơ cho những người chơi khác 413 điểm đề, 10 điểm lô, 49 điểm ba càng, tương ứng với số tiền 692.000 đồng. Đông trúng thưởng 120 điểm lô là 9.600.000 đồng; những người chơi khác trúng thưởng 12 điểm đề là 840.000 đồng và 02 điểm lô là 160.000 đồng. Số tiền đánh bạc của H là: 10.980.000 đồng + 220.000 đồng + 1.692.000 đồng = 12.892.000 đồng. Số tiền đánh bạc của Đ là: 1.380.000 đồng + 9.600.000 đồng = 10.980.000 đồng. Số tiền đánh bạc của bà G là 220.000 đồng.
    • Ngày 28/7/2024, H bán cho Đ 100 điểm lô, 20 điểm xiên 2, tương ứng với số tiền 2.500.000 đồng; ghi phơ cho bà G 306 điểm đề, 44 điểm càng, tương ứng với số tiền 350.000 đồng và ghi phơ cho những người chơi khác 276 điểm đề, 05 điểm lô, 55 điểm ba càng, tương ứng với số tiền 446.000 đồng. Đông trúng thưởng 20 điểm lô là 1.600.000 đồng; bà G trúng thưởng 06 điểm đề là 420.000 đồng và những người chơi khác trúng thưởng 06 điểm đề là 420.000 đồng và 05 điểm lô là 400.000 đồng. Số tiền đánh bạc của H là: 4.100.000 đồng + 770.000 đồng + 1.266.000 đồng = 6.136.000 đồng. Số tiền đánh bạc của Đ là: 2.500.000 đồng + 1.600.000 đồng = 4.100.000 đồng. Số tiền đánh bạc của bà G là: 350.000 đồng + 420.000 đồng = 770.000 đồng.
    • Ngày 05/8/2024, H bán cho Đ 60 điểm lô, 60 điểm đề, tương ứng với số tiền 1.440.000 đồng; và cho những người chơi khác 2.909 điểm đề, 45 điểm lô, 1.131 điểm ba càng, 21 điểm xiên 2, 06 điểm xiên 3, 05 điểm xiên 4, tương ứng với số tiền 5.395.000 đồng. Đ không trúng thưởng; những người chơi khác trúng thưởng 15 điểm lô là 1.200.000 đồng. Số tiền đánh bạc của H là: 1.440.000 đồng + 6.595.000 đồng = 8.035.000 đồng. Số tiền đánh bạc của Đ là: 1.440.000 đồng.

    Như vậy, những ngày H đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên là 15 ngày, với tổng số tiền 140.403.000 đồng; Đông 13 ngày đánh bạc với H, với số tiền là 124.320.000 đồng và ngày 05/8/2024 đánh bạc với H và Q là 5.580.000 đồng, tổng số tiền Đông đánh bạc là 129.900.000 đồng.

Quá trình điều tra Nông Thị H, Trần Anh Đ, Nguyễn Thị Q khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, H và Q khai thêm: hàng ngày, H và Q đều bán trực tiếp số lô, số đề cho nhiều người chơi, rồi tổng hợp lại, chuyển bảng cho người khác để hưởng chiết khấu; những người chơi trực tiếp, nếu mua nhiều số lô, đề thì được Q hoặc H ghi thành nhiều tờ phơ khác nhau.

H còn khai: H chuyển bảng cho Lại Thị H2, trú tại tổ D, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, việc chuyển bảng cho H2 thì H thanh toán bằng hình thức giao tiền mặt trực tiếp. Đối với những người ghi tờ phơ có mẹ đẻ của H là bà Từ Thị G và H còn nhớ được 01 người tên V (không rõ lai lịch, địa chỉ) do người này thường xuyên mua nhiều tờ phơ số lô, đề của H trong cùng ngày. H đã thanh toán tiền đánh bạc với những người chơi. Riêng ngày 05/8/2024 chưa thanh toán tiền đánh bạc với Đ và người nhận bảng.

Q còn khai: Quế hàng ngày chuyển bảng cho Đinh Thị H3, trú tại tổ E, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh và người phụ nữ có tài khoản Zalo “Deng Deng”, đã thanh toán xong bằng tiền mặt, còn một số lần Q thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng nhưng Q không nhớ được thanh toán vào ngày nào, số tiền bao nhiêu và tài khoản nào, do mỗi lần chuyển khoản thì H3 bảo Q chuyển vào các tài khoản ngân hàng khác nhau và mỗi lần số tiền chuyển đều dưới 5.000.000 đồng. Riêng ngày 05/8/2024, chưa chuyển bảng cho người nhận bảng. Trong số những người mua trực tiếp số lô, đề của Q có anh Đỗ Duy T, Lê Văn T1- Zalo là “Em C” là hàng xóm và Bùi Văn T2 là chồng của Q.

Đ khai thêm: Đông thanh toán tiền mua số lô, đề với H bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng hoặc đưa tiền mặt. Đ đã được nhận tiền trúng thưởng do H thanh toán. Đông mua số lô, đề của Q nhiều lần nhưng không nhớ thời gian, số tiền mua và trúng thưởng. Riêng ngày 05/8/2024, Đ chưa thanh toán tiền mua số lô, đề cho Q và H.

Tại bản Cáo trạng số: 3213/CT-VKSCP ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nông Thị H, Trần Anh Đ, Nguyễn Thị Q về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 164/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã quyết định:

Tuyên bố: các bị cáo Nông Thị H, Trần Anh Đ, Nguyễn Thị Q phạm tội “Đánh bạc".

Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Thị H số tiền 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng). Xử phạt bị cáo Trần Anh Đ số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, về án phí, về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/01/2025 bị cáo Trần Anh Đ kháng cáo, đề nghị xé xử phúc thẩm xin giảm tiền phạt cho bị cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Anh Đ giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử bị cáo Đ về tội “Đánh bạc” là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bản án tuyên phạt bị cáo 40.000.000đ là quá nặng, bị cáo đề nghị xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: kháng cáo của bị cáo Trần Anh Đ trong thời hạn luật định và hợp lệ, được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do đó đủ cơ sở xác định bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo phạm tội “đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật. Về hình phạt, việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 40.000.000đ là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đ. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 điều 355, điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Anh Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Trần Anh Đ được thực hiện trong thời gian luật định, nội dung kháng cáo trong phạm vi bản án sơ thẩm nên hợp lệ, vụ án được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2]. Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Anh Đ tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 01/6/2024 đến ngày 05/8/2024, tại phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Nông Thị H, Trần Anh Đ và Nguyễn Thị Q có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức số lô, đề với số tiền mỗi ngày từ 5.000.000 đồng trở lên. Trong đó, Nông Thị H đánh bạc 15 ngày với tổng số tiền 140.403.000 đồng; Trần Anh Đ đánh bạc 14 ngày với tổng số tiền 129.900.000 đồng; Nguyễn Thị Q đánh bạc 01 ngày với số tiền 13.807.000 đồng. Hành vi của bị cáo Trần Anh Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Bản án số 164/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả tuyên xử bị cáo Trần Anh Đ về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. [3]. Xét kháng cáo xin giảm mức tiền phạt của bị cáo Trần Anh Đ, Hội đồng xét xử xét thấy:

    Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Anh Đ không cung cấp được tài liệu chứng cứ về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới để có căn cứ xem xét giảm mức tiền phạt cho bị cáo.

    Bị cáo Trần Anh Đ bị xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình thức phạt tiền quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định mức phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Bị cáo Đ phải chịu 1 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52, và được hưởng 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Trong quá trình xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét về nhân thân bị cáo, về thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải của bị cáo để cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo; xử phạt bị cáo Đ 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc” là có căn cứ; phù hợp với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bịc cáo, nên không có căn cứ giảm mức tiền phạt theo nội dung kháng cáo của bị cáo.

  4. [4]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Anh Đ.
  5. [5]. Về án phí phúc thẩm: kháng cáo của bị cáo Trần Anh Đ không được nhận, vì vậy bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Anh Đ; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 164/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

    Tuyên bố: Trần Anh Đ phạm tội: “Đánh bạc”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Trần Anh Đ số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).

  2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Trần Anh Đ phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số: 164/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh QN.
  • - TAND TP Cẩm Phả.
  • - THADS TP Cẩm Phả.
  • - Công an TP Cẩm Phả.
  • - Sở tư pháp QN.
  • - Người tham gia tố tụng.
  • - Lưu HS - VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HSPT ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về hình sự - đánh bạc (phúc thẩm)

  • Số bản án: 12/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Anh Đông phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger