|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày 26 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG
TỈNH VĨNH PHÚC
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Bích Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nghị và bà Kiều Thị Thắng.
-Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hoài Phương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Vân Anh– Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Nhà văn hóa thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Tam Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Thị H, sinh ngày 20/11/1997; nơi sinh và cư trú: Tổ dân phố L, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn L (đã chết); con bà: Phan Thị H1, sinh năm 1976; chồng: Không có; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ: sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 20/6/2017, bị Phòng PC04 – Công an tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 1.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đến nay Trần Thị H chưa chấp hành nộp phạt nhưng đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;+ Ngày 08/8/2019, bị Phòng PC04 – Công an tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 750.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 64 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đến nay Trần Thị H chưa chấp hành nộp phạt nhưng đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04 tháng 9 năm 2024 chuyển tạm giam ngày 12/9/2024 đến nay (có mặt).Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn D- Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt)Người làm chứng: Anh Nguyễn Xuân C, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).Người chứng kiến: Ông Chu Văn C1, sinh năm 1966, địa chỉ cư trú: Thôn H, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo cáo trạng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị H là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2014 cho đến khi bị bắt giữ. Ngày 04/9/2024, Trần Thị H gọi điện thoại cho Nguyễn Duy L1, sinh năm 1999, thường trú tại thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (là bạn xã hội và đang thuê trọ ở gần nhà H). Qua điện thoại, H bảo L1 góp mỗi người một nửa tiền để L1 đi tìm mua khoảng 500.000 đồng đến 600.000 đồng ma túy đá và ma túy ngựa về cùng nhau sử dụng. Nguyễn Duy L1 không có tiền nên bảo H cho vay trước, khi nào có tiền sẽ trả lại cho H sau. Trần Thị H đồng ý và chuyển khoản cho Nguyễn Duy L1 số tiền 500.000 đồng để L1 đi mua ma túy nhưng sau đó L1 đã từ chối không đi mua ma tuý cho H. Do trước đó, Trần Thị H đã hẹn L1 sang phòng trọ của L1 ăn cơm nên H bảo L1 đến đón. Trần Thị H có nợ một thanh niên tên là Đ ở xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc số tiền 400.000 đồng, hẹn khi nào H trả nợ thì Đ sẽ cho H ma túy để sử dụng. Vì vậy, trên đường đi về phòng trọ, H nói với L1 bản thân còn nợ tiền Đ và nhờ L1 đưa đi trả nợ nên L1 đồng ý. Trần Thị H gọi điện cho Đ nên Đ hẹn H đến khu vực thôn H, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguyễn Duy L1 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát: 88K1-016.66 chở H đi đến điểm hẹn. Trên đường đi, L1 vào một hàng tạp hóa ở ven đường để mua hàng và chuyển khoản cho người bán hàng số tiền 550.000 đồng để người này trả lại cho L1 450.000 đồng tiền mặt. Số tiền này L1 đã đưa lại cho H. Sau khi đến địa điểm như đã hẹn, L1 dừng xe ở ngoài ngõ đứng chờ còn H đi vào trong ngõ cách khoảng 300m để gặp. Khi gặp Đ, Trần Thị H trả cho Đ số tiền 400.000 đồng và cho thêm Đ 50.000 đồng, Đ cầm tiền rồi chỉ H ra vị trí mép đường bê tông nơi Đ cất ma túy. Trần Thị H đi ra chỗ Đ chỉ, thấy một túi nilon màu trắng, bên trong có ma túy đá và hai viên ma túy ngựa. H cầm trên tay, đi bộ ra chỗ L1 đang đợi thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm: Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Trần Thị H một túi nilon màu trắng, bên trong đựng các hạt tinh thể dạng đá màu trắng và hai viên nén màu đỏ, trên mỗi mặt của viên nén có in ký tự “WY”. Trần Thị H tự khai nhận đây là ma túy đá và ma túy ngựa H cất giấu để sử dụng cho bản thân. Vật chứng được niêm phong vào 01 phong bì giấy kí hiệu A1; Thu giữ của Trần Thị H một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng đã qua sử dụng; Tạm giữ của Nguyễn Duy L1 một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám, đã qua sử dụng và một xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đen, đã qua sử dụng, gắn biển kiểm soát: 88K1-016.66. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Thị H tại tổ dân phố L, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Ngày 04/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 2256 trưng cầu Phòng K - giám định ma túy đối với mẫu ký hiệu A1. Ngày 09/9/2024, Phòng K - Công an tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Kết luận giám định số 2591, kết luận: “Tinh thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu Al gửi giám định có khối lượng 0,1680g (không phảy một sáu tám không gam, không kể bao bì) là ma túy đá, loại Methamphetamine. 02 (Hai) viên nén màu đỏ có trong mẫu ký hiệu Al gửi giám định có tổng khối lượng 0,2065g (không phảy hai không sáu năm gam, không kể bao bì) là ma túy, loại Methamphetamine”. Ngày 02/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tam Dương đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1570, trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh Vĩnh Phúc khôi phục, trích xuất dữ liệu điện tử Zalo, Facebook, tin nhắn SMS, lịch sử cuộc gọi trong ngày 04/9/2024 trong điện thoại Iphone của Trần Thị H. Tại bản kết luận giám định số 3840 ngày 31/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Không tìm thấy dữ liệu theo nội dung yêu cầu giám định”. Về xử lý vật chứng: Mẫu trả còn lại sau giám định gồm A1 tinh thể = 0,0752 gam mẫu, A1 viên nén = 0,0768 gam mẫu cùng bao gói được niêm phong trong một bao bì gói giấy “Mẫu trả vụ 2403” theo quy định là ma túy Methamphetamine, bị cấm tàng trữ, lưu hành, đề nghị tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, đã cũ. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Trần Thị H. Khi bị bắt, chiếc điện thoại này bị rơi, sập nguồn. Khi mở máy đã tự động reset và tự cài đặt lại, không khôi phục được dữ liệu. Ngày 04/9/2024, Trần Thị H đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc với thanh niên tên Đ giao dịch, trao đổi ma túy nên đề nghị tịch thu, sung quỹ nhà nước. Đối với 01 xe máy mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu đen, biển kiểm soát: 88K1-016.66 đã cũ: Quá trình điều tra xác định chiếc xe này là do Nguyễn Duy L1 mượn của Nguyễn Trần Diệu L2, sinh năm 2002, đăng kí thường trú tại tổ B, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Việc Nguyễn Duy L1 điều khiển xe chở Trần Thị H ngày 04/9/2024, L2 không biết. Ngày 01/10/2024, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy đã trả lại chiếc xe trên cho chị Nguyễn Trần Diệu L2 là hợp pháp nên không xem xét xử lý trong vụ án.Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám đã cũ. Quá trình điều tra xác định là tài sản của Nguyễn Duy L1, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã kiểm tra chiếc điện thoại này nhưng không phát hiện cuộc gọi nào liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Thị H nên ngày 01/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã trả lại cho Nguyễn Duy L1.Đối với nam thanh niên tên Đ đã đưa ma túy cho Trần Thị H: H khai báo Đ có mối quan hệ xã hội với H nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. H không nhớ chính xác vị trí ngôi nhà ở thôn H, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc nên không thể chỉ dẫn được. Đ có đặc điểm khoảng 20 tuổi, dáng người gầy, da hơi đen. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tam Dương đã phối hợp với Công an xã D tiến hành xác minh nhưng đến nay không xác định được người tên Đ như H khai báo. Đề nghị tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau. Đối với Nguyễn Duy L1 là người được Trần Thị H chuyển tiền đi mua ma túy nhưng L1 không mua được. Sau đó, H đã nhờ L1 đưa đến xã D để gặp Đ. Theo lời khai của Trần Thị H, L1 đã mua hàng tại cửa hàng tạp hóa ven đường và chuyển khoản cho người bán hàng số tiền 550.000 đồng và lấy lại 450.000 đồng tiền mặt để đưa cho H. Số tiền này H đã đưa cho Đ để trả nợ và lấy ma túy nhưng L1 chỉ biết việc H gặp Đ để trả nợ. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, nội dung lời khai của Nguyễn Duy L1 như nội dung H đã khai báo, tuy nhiên số tiền mặt L1 đưa cho H là 520.000 đồng, việc H gặp Đ để lấy ma túy L1 không được biết. Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tam Dương đã nhiều lần triệu tập Nguyễn Duy L1 để làm rõ mâu thuẫn trong lời khai cũng như đấu tranh vai trò đồng phạm của Nguyễn Duy L1 nhưng L1 không có mặt địa phương, đi đâu làm gì không rõ. Vì vậy, Cơ quan điều tra - Công an huyện Tam Dương tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.Tại cơ quan điều tra, Trần Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, lời khai của Huyền phù H2 với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSTD ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương truy tố bị cáo Trần Thị H về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Do Trần Thị H không có thu nhập, nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.Người bào chữa của bị cáo đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo Trần Thị H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi của mình, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không có chồng nhưng đang phải nuôi con nhỏ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về gia đình chăm sóc con nhỏ.Bị cáo Trần Thị H nhất trí với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Tam Dương, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Do đó có đủ cơ sở chứng cứ khách quan để kết luận: Trần Thị H là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2014 cho đến khi bị bắt giữ. Ngày 04/9/2024, tại thôn H, xã D, huyện T, tỉnh Vỉnh Vĩnh Phúc, Trần Thị H có hành vi tàng trữ trái phép 0,3745 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra, phát hiện bắt giữ cùng tang vật của vụ án gồm: Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Trần Thị H một túi nilon màu trắng, bên trong đựng các hạt tinh thể dạng đá màu trắng và hai viên nén màu đỏ, trên mỗi mặt của viên nén có in ký tự “WY”, vật chứng được niêm phong vào 01 phong bì giấy kí hiệu A1; Thu giữ của Trần Thị H một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng đã qua sử dụng; Tạm giữ của Nguyễn Duy L1 một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám, đã qua sử dụng và một xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu sơn đen, đã qua sử dụng, gắn biển kiểm soát: 88K1-016.66..
[3]. Hành vi, tàng trữ trái phép chất ma túy của Trần Thị H là đã phạm vào tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:Điều 249 BLHS quy định: "1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.a...c) ... Methamphetamine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; "
[4].Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H khai báo về các tình tiết của vụ án phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo nhận thức được ma tuý là chất gây nghiện Nhà nước cấm tàng trữ trái phép nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
[5].Về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần được xem xét khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Với tính chất và mức độ phạm tội như trên cần áp dụng một hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
[6].Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung để phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Đối với nam thanh niên tên Đ đã đưa ma túy cho Trần Thị H: H khai báo Đ có mối quan hệ xã hội với H nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. H không nhớ chính xác vị trí ngôi nhà ở thôn H, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc nên không thể chỉ dẫn được. Đ có đặc điểm khoảng 20 tuổi, dáng người gầy, da hơi đen. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tam Dương đã phối hợp với Công an xã D tiến hành xác minh nhưng đến nay không xác định được người tên Đ như H khai báo. Đề nghị tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau. Đối với Nguyễn Duy L1 là người được Trần Thị H chuyển tiền đi mua ma túy nhưng L1 không mua được. Sau đó, H đã nhờ L1 đưa đến xã D để gặp Đ. Theo lời khai của Trần Thị H, L1 đã mua hàng tại cửa hàng tạp hóa ven đường và chuyển khoản cho người bán hàng số tiền 550.000 đồng và lấy lại 450.000 đồng tiền mặt để đưa cho H. Số tiền này H đã đưa cho Đ để trả nợ và lấy ma túy nhưng L1 chỉ biết việc H gặp Đ để trả nợ. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, nội dung lời khai của Nguyễn Duy L1 như nội dung H đã khai báo, tuy nhiên số tiền mặt L1 đưa cho H là 520.000 đồng, việc H gặp Đ để lấy ma túy L1 không được biết. Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tam Dương đã nhiều lần triệu tập Nguyễn Duy L1 để làm rõ mâu thuẫn trong lời khai cũng như đấu tranh vai trò đồng phạm của Nguyễn Duy L1 nhưng L1 không có mặt địa phương, đi đâu làm gì không rõ. Vì vậy, Cơ quan điều tra - Công an huyện Tam Dương tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[8].Về vật chứng của vụ án: Mẫu trả còn lại sau giám định gồm A1 tinh thể = 0,0752 gam mẫu, A1 viên nén = 0,0768 gam mẫu cùng bao gói được niêm phong trong một bao bì gói giấy “Mẫu trả vụ 2403” theo quy định là ma túy Methamphetamine, bị cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, đã cũ. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Trần Thị H. Khi bị bắt, chiếc điện thoại này bị rơi, sập nguồn. Khi mở máy đã tự động reset và tự cài đặt lại, không khôi phục được dữ liệu. Ngày 04/9/2024, Trần Thị H đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc với thanh niên tên Đ giao dịch, trao đổi ma túy nên cần tịch thu, sung quỹ nhà nước. Đối với 01 xe máy mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu đen, biển kiểm soát: 88K1-016.66 đã cũ: Quá trình điều tra xác định chiếc xe này là do Nguyễn Duy L1 mượn của Nguyễn Trần Diệu L2, sinh năm 2002, đăng kí thường trú tại tổ B, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Việc Nguyễn Duy L1 điều khiển xe chở Trần Thị H ngày 04/9/2024, L2 không biết. Ngày 01/10/2024, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy đã trả lại chiếc xe trên cho chị Nguyễn Trần Diệu L2 là hợp pháp nên không xem xét xử lý trong vụ án. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu xám đã cũ. Quá trình điều tra xác định là tài sản của Nguyễn Duy L1, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã kiểm tra chiếc điện thoại này nhưng không phát hiện cuộc gọi nào liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Thị H nên ngày 01/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã trả lại cho Nguyễn Duy L1. Nên không xem xét giải quyết trong vụ án.
[9] Về án phí: Bị cáo Trần Thị H gia đình thuộc hộ nghèo và có đề nghị được miễn án phí nên cần miễn án phí cho bị cáo. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên xử:
1.Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội:“ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2.Về điều luật áp dụng:
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
3. Về hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 04 tháng 9 năm 2024.
4.Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định gồm A1 tinh thể = 0,0752 gam mẫu, A1 viên nén = 0,0768 gam mẫu cùng bao gói được niêm phong trong một bao bì gói giấy “Mẫu trả vụ 2403” theo quy định là ma túy Methamphetamine, bị cấm tàng trữ, lưu hành.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, đã cũ của Trần Thị H.
Các vật chứng bị tịch có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 12/02/2024 giữa Công an huyện Tam Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương.
5. Án phí hình sự sơ thẩm: Miễn án phí cho bị cáo Trần Thị H.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Bích Ngọc |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
