Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KRÔNG NÔ

TỈNH ĐẮK NÔNG


Bản án số:12/2025/HSST

Ngày:25/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hồng Duy.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quang Hiển và ông Nguyễn Quang Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Bun – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông tham

gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thơm – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS, ngày 21/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS, ngày 11/02/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn B, sinh năm 1969, tại tỉnh Thanh Hóa ; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện tại: Bon R, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn L (Đã chết) và bà: Ngô Thị K, sinh năm: 1933; vợ: Trịnh Thị T, sinh năm: 1971 và có 01 con, sinh năm 1997; tiền án và tiền sự: Không; nhân thân: Xấu, Bản án số 34/2000/HSST, ngày 29/8/2000 của TAND huyện Cư Jút, xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 BLHS năm 1999 theo (đã chấp hành xong và được xoá án tích). Bản án số 07/2012/HSST, ngày 24/02/2012 của TAND huyện Đắk Glong, xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 03 tháng 12 ngày về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 BLHS năm 1999 (đã chấp hành xong và được xoá án tích). Bản án số 27/2016/HSST, ngày 16/8/2016 của TAND huyện Đắk Song, xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 BLHS năm 1999 (đã chấp hành xong và được xoá án tích); bị bắt tạm giữ ngày 31/8/2024, hiện nay bị tạm giam tại nhà giam giữ Công an huyện K, bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phan Thị Mộng K1 – sinh năm 2001; địa chỉ thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn D – sinh năm 2002; địa chỉ thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông, có mặt.
  3. Ông Trương Đan H – sinh năm 2004; địa chỉ KM3, bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.
  4. Bà Trần Thị Trúc L1 – sinh năm 1994; địa chỉ thôn P, xã Q, huyện K, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.
  5. Bà Trịnh Thị T – sinh năm 1971; địa chỉ tại Bon R, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn sử dụng ma túy, trưa ngày 27/8/2024, Lê Văn B liên lạc với Trần Thị Trúc L1 hỏi có biết ai bán ma túy để mua sử dụng thì L1 đã nhắn tin gửi số điện thoại của Trương Đan H (tên thường gọi là Phi L2) cho B và dặn B nói là người quen của L1. Sau đó, L1 gọi cho H trao đổi về việc đã cho B số điện thoại của H rồi nhờ H giúp B tìm mua ma túy. Cùng ngày, B gọi điện thoại cho H hỏi mua ma túy thì H chỉ dẫn cho B đi đến nhà H ở KM43, bon R, xã Q, huyện Đ. Sau khi B đến và đưa cho H số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). H mượn xe máy của B đi tìm nam thanh niên bán ma túy nhưng không thấy nên quay về và đưa lại số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) cho B.

Đêm ngày 30/8/2024, B liên lạc với Phan Thị Mộng K1 để rủ đi nhậu thì K1 đồng ý. Cả hai hẹn gặp vào ngày 31/8/2024 tại xã Q, huyện K. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 31/8/2024, B điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 47L1-02593 mang theo một số công cụ dùng để sử dụng ma túy (lưỡi dao lam, ống hút nhựa, quẹt gas) đi từ xã Q, huyện Đ đến xã Q, huyện K. Trên đường đi, B đến nhà H và đưa cho H 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) để mua ma túy. H nhận tiền rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nam thanh niên từng bán ma túy cho H trước đây để mua 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) ma túy. Người thanh niên đưa cho H 01 vỏ bao thuốc lá bên trong chứa ma túy. H mang về ném vỏ bao thuốc lá chứa ma túy bên trong xuống lề đường gần vị trí B ngồi rồi về nhà. B nhặt lên cất trong ốp điện thoại rồi điều khiển xe đi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá mà B đã cất giấu trước đó rồi mang theo đến xã Q gặp K1. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, B đến nhà nghỉ H1 thuộc thôn P, xã Q, huyện K thuê phòng số 03 rồi gọi cho K1 biết địa điểm. Do lúc này Nguyễn Văn D cũng đến nhà rủ K1 đi nhậu nên K1 rủ D cùng đi đến gặp B. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, K1 và D đến phòng số 03 của nhà nghỉ H1 thì B lấy ma túy cùng với các công cụ dùng để sử dụng ma túy để lên trên giường rồi B đổ ma tuý vào bộ D1, đốt lên sử dụng sau đó nói K1 và D sử dụng cùng. D và K1 cầm bộ dụng cụ, tự đốt và sử dụng, khi K1 vừa sử dụng xong thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật của vụ án. Tiến hành xét nghiệm nhanh đối với B, K1, D, kết quả tất cả đều dương tính với ma túy (Methamphetamine).

- Quá trình bắt quả tang thu giữ:

  • + 01 (một) gói nhựa trong suốt được hàn kín, kích thước (1x3)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng;
  • + 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 ly thuỷ tinh trong suốt, trên miệng ly được đậy bằng phần trên vỏ chai nhựa trong suốt và có nắp đậy bằng nhựa màu xanh lá cây, bên trên nắp bị đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn đoạn ống hút nhựa màu hồng, một lỗ gắn đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong, một đầu có dạng hình cầu chứa chất rắn màu trắng đục.
  • + 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng, một đầu được cắt vát chéo,
  • + 01 (một) quẹt gas (bật lửa) màu đỏ, đã qua sử dụng,
  • + 01 (một) quẹt gas (bật lửa) bị mất bộ phận đánh lửa, bên trên bộ phận dẫn gas có gắn đoạn lò xo được quấn giấy bạc, bên trên quẹt gas (bật lửa) có in chữ "PING GUO",
  • + 01 (một) mảnh kim loại có kích thước (4,3x2,8)cm, bên trên có ghi chữ "Gillette” (dạng lưỡi dao lam),
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu ViVo, màu tím đen, số IMEI 1: 867823049407536, số IMEI 2: 867823049407528, bên trong gắn sim số: 0348223245, đã qua sử dụng, thu giữ của Lê Văn B.
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Hayate, màu đen, biển kiểm soát: 47L1-02593, số khung: 4EH0B0125851, số máy: F4A5189811, đã qua sử dụng, thu giữ của Lê Văn B.
  • + 01 (một) giấy đăng ký mô tô, xe máy số 006172; Tên chủ xe: Nguyễn Thị N; Sinh năm: 1987; Địa chỉ: thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Biển số đăng ký: 47L1-02593, thu giữ của Lê Văn B.

- Quá trình điều tra bà Trịnh Thị T (vợ của Lê Văn B) giao nộp: 01 (một) thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Lê Văn B, cấp ngày: 09/5/2021; Nơi cấp: Cục C về TTXH.

Tại bản Kết luận giám định số 415/KL-KTHS ngày 05/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận:

  • - Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nhựa được hàn kín, kích thước (01x03) cm được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “MT” gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,0677 gam; hoàn lại sau giám định 0,0556 gam.
  • - Chất rắn màu trắng đục bám dính trong ống thủy tinh hình cầu được niêm phong trong hộp giấy gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,0291 gam; hoàn lại sau giám định 0,0192 gam.

Cáo trạng số 07/CT-VKS-KrN ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố bị cáo Lê Văn B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô sau khi đã phân tích hành vi phạm tội cũng như các tình tiết của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Văn B và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn B từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ khối lượng mẫu ma túy còn lại sau giám định là 0,0748 gam và bộ D1 sử dụng ma tuý (được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 415/KL-KTHS, ghi mẫu MT hoàn trả và hộp giấy có đóng dấu của phòng K2 Công an tỉnh); 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng; 02 quẹt gas, 01 mảnh kim loại (dao lam).
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo, màu tím đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, màu đen, biển kiểm soát: 47L1-02593 là tài sản của Lê Văn B đã sử dụng vào mục đích phạm tội.
  • - Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện K trả lại cho Lê Văn B những giấy tờ không phải là vật chứng của vụ án gồm: 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn B.
  • - Chấp nhận bà Trịnh Thị T (vợ bị cáo) nộp lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị N cho Tòa án và đề nghị chuyển qua Chi cục thi hành án dân sự xử lý theo quy định pháp luật.

Trong vụ án còn có vấn đề khác: Đối với hành vi mua giúp ma tuý của Trương Đan H vào ngày 31/8/2024, H không biết mục đích của B để Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, việc H mua ma tuý cho B không thu lợi, đồng thời số ma tuý thu giữ được của B dưới 0,1 gam, bản thân H chưa có tiền án, tiền sự nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H, Cơ quan Công an huyện K đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H là đúng quy định của pháp luật.

Đối với việc Trần Thị Trúc L1 cho B số điện thoại của H để B mua ma tuý, L1 không biết mục đích mua ma tuý của B là để Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, L1 không được hưởng lợi gì từ việc này vì vậy không có căn cứ xem xét xử lý đối với L1.

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho H vào ngày 31/8/2024: Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được, sẽ tiếp tục xác minh và xử lý khi có đủ căn cứ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Phan Thị Mộng K1 và Nguyễn Văn D, Cơ quan Công an huyện K đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Tại phiên tòa, bà Trịnh Thị T trình bày: Đối với xe máy biển kiểm soát 47L1-02593 là tài sản riêng của ông B, ông B mua bằng tiền riêng của ông B, bà T từ chối nhận xe vì xe phạm pháp luật, đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Đồng thời bà T nộp lại cho Tòa án giấy chứng nhận đăng ký xe máy của xe mô tô biển kiểm soát 47L1 – 02593 để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị xét xử là đúng người, đúng tội và không oan. Bị cáo không bào chữa, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, có cơ hội để sửa chữa những lỗi lầm sớm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thực hiện hành vi đúng như diễn biến sự việc nêu trong Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 31/8/2024, Lê Văn B thuê phòng số 3 của nhà nghỉ H1 thuộc thôn P, xã Q, huyện K, tại đây B cung cấp ma tuý loại Methamphetamine và dụng cụ để cùng với Phan Thị Mộng K1, Nguyễn Văn D sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 31/8/2024, Lê Văn B chuẩn bị ma túy, công cụ sử dụng ma túy, địa điểm để sử dụng ma túy cùng với Phan Thị Mộng K1, Nguyễn Văn D sử dụng ma túy, nên phải chịu các tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” được quy định tại b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo Lê Văn B đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định:

Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

......

b) Đối với 02 người trở lên;

......”

[4] Xét tính chất hành vi do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, hành vi của bị cáo góp phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng. Trong thời gian gần đây, nổi lên tình trạng tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép, sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy một cách nghiêm trọng, đây là một vấn nạn của xã hội, chính từ ma túy mà nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời làm gương cho những ai đã và đang có ý định phạm tội, nhằm nhanh chóng loại bỏ loại tội phạm này ra khỏi xã hội.

[5] Nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu. Bản án số 34/2000/HSST, ngày 29/8/2000 của TAND huyện Cư Jút, xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 139 BLHS năm 1999 (đã được xoá án tích). Bản án số 07/2012/HSST, ngày 24/02/2012 của TAND huyện Đắk Glong, xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 03 tháng 12 ngày về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS năm 1999 (đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích). Bản án số 27/2016/HSST, ngày 16/8/2016 của TAND huyện Đắk Song, xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS năm 1999 (đã chấp hành xong bản án, đã được xoá án tích).

[6] Tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[7] Xét quan điểm và đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần chấp nhận.

[8] Về hình phạt chính: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng một mức án nghiêm khắc và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không công việc và không có thu nhập. Hình phạt chính áp dụng cũng đủ giáo dục, cải tạo bị cáo, qua đó bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, nhận thức được những sai lầm khuyết điểm của bản thân. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[10] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ khối lượng mẫu ma túy còn lại sau giám định là 0,0748 gam và bộ D1 sử dụng ma tuý (được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 415/KL-KTHS, ghi mẫu MT hoàn trả và hộp giấy có đóng dấu của phòng K2 Công an tỉnh); 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng; 02 quẹt gas, 01 mảnh kim loại (dao lam).
  • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo, màu tím đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, màu đen, biển kiểm soát: 47L1-02593 là tài sản của Lê Văn B đã sử dụng vào mục đích phạm tội.
  • - Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện K trả lại cho Lê Văn B những giấy tờ không phải là vật chứng của vụ án gồm: 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn B (theo biên bản trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu vào ngày 27/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K với Lê Văn B).
  • - Chấp nhận việc bà Trịnh Thị T đã nộp lại cho Tòa án nhân dân huyện Krông Nô giấy đăng ký mô tô, xe mô tô số 006172, do Công an huyện K cấp ngày 01/01/2012, mang tên Nguyễn Thị N, giấy đăng ký của xe máy biển số 47L1-025.93 để chuyển qua Chi cục thi hành án dân sự xử lý theo đúng thẩm quyền.

[11] Trong vụ án còn có vấn đề: Đối với hành vi mua giúp ma tuý của Trương Đan H vào ngày 31/8/2024, H không biết mục đích của B để Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, việc H mua ma tuý cho B không thu lợi gì đồng thời số ma tuý thu giữ được của B dưới 0,1 gam, bản thân H chưa có tiền án, tiền sự nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H, Cơ quan Công an huyện K đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H là đúng quy định của pháp luật.

Đối với việc Trần Thị Trúc L1 cho B số điện thoại của H để B mua ma tuý, L1 không biết mục đích mua ma tuý của B là để Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, L1 không được hưởng lợi gì từ việc này vì vậy không có căn cứ xem xét xử lý đối với L1.

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho H vào ngày 31/8/2024: Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được, sẽ tiếp tục xác minh và xử lý khi có đủ căn cứ.

Đối với hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý của Phan Thị Mộng K1 và Nguyễn Văn D, Cơ quan Công an huyện K đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

[12] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn B 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 31/8/2024.
  3. Về vật chứng trong vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ khối lượng mẫu ma túy còn lại sau giám định là 0,0748 gam và bộ D1 sử dụng ma tuý (được niêm phong trong bì thư ký hiệu số 415/KL-KTHS, ghi mẫu MT hoàn trả và hộp giấy có đóng dấu của phòng K2 Công an tỉnh); 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng; 02 quẹt gas, 01 mảnh kim loại (dao lam).
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo, màu tím đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, màu đen, biển kiểm soát: 47L1-02593.
    • (Toàn bộ vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Đắk Nông với Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Nô vào ngày 22/01/2025)
    • - Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện K trả lại cho Lê Văn B 01 căn cước công dân mang tên Lê Văn B.
    • - Chấp nhận bà Trịnh Thị T đã nộp lại cho Tòa án nhân dân huyện Krông Nô giấy đăng ký mô tô, xe mô tô số 006172, do Công an huyện K cấp ngày 01/01/2012, mang tên Nguyễn Thị N, giấy đăng ký của xe máy biển số 47L1- 025.93 và chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Nô xử lý theo đúng thẩm quyền cùng với xe mô tô 47L1-02593 .
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Văn B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo:
    • - Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
    • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp của mình trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
    • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp của mình trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Đắk Nông;
  • -Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Krông Nô;
  • -Đội điều tra Công an huyện Krông Nô;
  • -Đội THAHS Công an huyện Krông Nô;
  • -Bộ phận Nghiệp vụ CA huyện Krông Nô;
  • -Chi cục THADS huyện Krông Nô;
  • -Bị cáo;
  • -Những người tham gia tố tụng;
  • -Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lại Hồng Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự

  • Số bản án: 12/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger