Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BỈM SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 25 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Văn Nam

Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Văn Lược và ông Vũ Văn Thoa.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Kim Dung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Huấn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với:

- Các bị cáo:

  1. Lê Quốc P, sinh ngày 21 tháng 08 năm 1988, tại phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: A T, Khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số: [...]; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn T và bà: Lê Thị B; tiền án: tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2022/HS-ST ngày 15/04/2022 của Toà án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá đã xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; tiền sự: không; nhân thân: ngày 24/11/2017, bị Toà án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ từ ngày 29/10/2024 đến ngày 05/11/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B, tỉnh Thanh Hóa đến nay. Có mặt.
  2. Lê Mạnh T1, sinh ngày 13 tháng 05 năm 1990, tại phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: A Hồ T, Khu phố I, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số: [...]; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn H (đã chết) và bà: Vũ Thị C; có vợ: Nguyễn Thị H1 và 02 con; tiền án: tại bản án hình sự sơ thẩm số 102/2022/HS-ST ngày 29/08/2022 của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày

27/10/2024 đến ngày 05/11/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B, tỉnh Thanh Hóa đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1999; địa chỉ: A Hồ T, Khu phố I, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người chứng kiến:

  1. Ông Lê Thanh B1, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Thành T2, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ A, Khu phố F, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  3. Ông Hoàng Khánh B2, sinh năm 1963; địa chỉ: Khu phố I, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 27/10/2024, Tổ công tác Công an phường B, thị xã B đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường H, khu phố I, phường B, thị xã B phát hiện Lê Mạnh T1 điều khiển xe máy điện BKS 36AP-013.70 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ Công tác yêu cầu T1 dừng xe để kiểm tra phát hiện, thu giữ bên trong túi áo khoác bên trái T1 đang mặc 01 gói giấy nhỏ màu trắng có in chữ màu đen, bên ngoài được bọc bằng giấy nilon màu đen, kích thước khoảng (01x1,5)cm, bên trong có chứa chất bột dạng cục vụn, màu trắng ngà. T1 khai nhận gói ma túy trên là của T1 vừa mua của Lê Quốc P với giá 500.000 đồng nhằm mục đích sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Tổ công tác tiến hành lập biên bản phạm pháp quả tang và thu giữ: 01 gói giấy nhỏ màu trắng có chữ màu đen, bên ngoài được bọc bằng giấy nilon màu đen, kích thước khoảng (01x1,5) cm bên trong có chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà được niêm phong trong một phong bì do bưu điện phát hành; 01 xe máy điện có ghi chữ ESPERO Classic pro, màu đen, biển số 36AP-013.70; 01 đăng ký xe mô tô mang tên Lê Mạnh T1; 01 điện thoại di động có ghi chữ Iphone màu vàng, bên trong lắp sim số 0822.171.222.

Cùng ngày, cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Mạnh T1 và Lê Quốc P. Kết quả, tại chỗ ở của T1 không thu giữ được đồ vật, tài sản gì liên quan; tại chỗ ở của P, thu giữ: 01 túi nilon màu đen, kích thước (01x02)cm, bên trong có chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà (niêm phong ký hiệu M1); 01 túi nilon màu đen, kích thước (01x02)cm, bên trong có chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà (niêm phong ký hiệu M2); 01 túi nilon màu đen, kích thước (01x02)cm, bên trong có chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà (niêm phong ký hiệu M3); 01 bơm kim tiêm loại 03ml, 01 ống nước cất loại 02ml (chưa qua sử dụng); 01 cân loại cân tiểu ly, màu đen, đã cũ; 01 bao tay loại bảo hộ lao động, màu xám.

Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ngày 29/10/2024, Lê Quốc P đến cơ quan điều tra xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Kết luận giám định số 4121/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “chất bột màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng (trọng lượng) 0,005g (không phẩy không không năm gam) loại: Heroin; chất bột màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng (trọng lượng) 0,035g (không phẩy không ba năm gam) loại: Heroine; chất màu trắng bám dính của phong bì niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định là ma túy, loại: Heroin. Không xác định được khối lượng (trọng lượng) chất ma túy. Tổng khối lượng (trọng lượng) ma túy trong các phong bì niêm phong ký hiệu M1, M2, M3 là 0,04g (không phẩy không bốn) loại Heroin”.

Tại Kết luận giám định số 4132/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “chất bột dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì niêm phong do bưu điện phát hành gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,271g (không phẩy hai bảy một gam), loại Heroin”.

Quá trình điều tra, Lê Mạnh T1, Lê Quốc P khai nhận: khoảng 17 giờ 20 phút ngày 27/10/2024, T1 gọi điện cho P hỏi mua 01 gói ma túy để sử dụng. Khoảng 17 giờ 33 phút cùng ngày, T1 gọi điện thoại lại cho P thì P nói: “đang đến rồi”. Đến 17 giờ 43 phút cùng ngày, T1 tiếp tục gọi điện lại cho P thì P nói với T1 “đi lên nhà mày một đoạn”. T1 lấy xe máy điện đi từ nhà đến vị trí cách nhà T1 khoảng 50m về phía Khu phố A, phường B và đứng đợi khoảng 02 phút thì P đi xe máy đến chỗ T1 đang đứng đợi. Tại đây, P đưa cho T1 01 gói ma túy, T1 cầm gói ma túy và đưa lại cho P 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Mua được ma túy, T1 bỏ vào túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Về đến cổng nhà, T1 bị Tổ Công tác Công an phường B kiểm tra, phát hiện thu giữ trong túi áo khoác bên trái của T1 01 gói ma túy.

Về nguồn gốc ma túy, Lê Quốc P khai nhận: khoảng cuối tháng 09/2024, P một mình đi đến khu vực cầu Đ, huyện N tìm mua ma túy để sử dụng và bán nếu có người hỏi mua. Tại đây, P gặp một người đàn ông tên H2 (không rõ địa chỉ) mua được 02 gói ma túy, loại Heroin với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, P mang về nhà chia vào các túi nilon nhỏ để bán kiếm lời. Đến khoảng hơn 17 giờ ngày 27/10/2024, Lê Mạnh T1 sử dụng số thuê bao 0822.717.222 gọi điện vào số thuê bao 0918.478.920 của P hỏi mua 500.000 đồng ma túy thì P đồng ý bán. Một lúc sau, P mang ma túy lên địa điểm đã hẹn để giao cho T1. P đưa cho T1 01 gói ma túy, T1 cầm gói ma túy và đưa lại cho P 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Biết Lê Mạnh T1 bị bắt nên Lê Quốc P đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã B xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

2. Cáo trạng số 12/CT-VKS-BS ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lê Quốc P về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy

tố bị cáo Lê Mạnh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa:

3.1. Bị cáo Lê Quốc P thừa nhận hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Lê Mạnh T1 thừa nhận hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

3.2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố: bị cáo Lê Quốc P về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo Lê Mạnh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Áp dụng: khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Quốc P; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Mạnh T1.
  • Xử phạt: bị cáo Lê Mạnh T1 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù; bị cáo Lê Quốc P từ 30 tháng tù đến 33 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày các bị cáo bị tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  • Xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 bơm kim tiêm loại 03ml, 01 ống nước cất loại 02ml (chưa qua sử dụng); 01 găng tay bảo hộ màu xám, đã cũ, đã qua sử dụng; 01 cân tiểu ly màu đen, đã cũ; 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Lại Thị Thanh L, Phạm Mạnh H2, Tống Hồng Q và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T; 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Minh T3, Vũ Ngọc S và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T; 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật sau giám định do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên của Trần Thị Thúy H3, Vũ Ngọc S và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Trả lại cho chị Nguyễn Thị H1 01 xe máy điện có ghi chữ ESPERO Classic pro, biển số 36AP-013.70 và 01 đăng ký xe máy điện số 36001336. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động có ghi chữ Iphone màu vàng, đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0822.717.222. Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng của Lê Quốc P.
  • Án phí: buộc các bị cáo, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo và người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Về tội danh: lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ được và bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: khoảng 17 giờ 45 phút ngày 27/10/2024, tại Khu phố I, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, Lê Quốc P đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy có trọng lượng 0,271 gam, loại Heroin với giá 500.000 đồng cho Lê Mạnh T1 để sử dụng. Ngoài ra, P còn tàng trữ 0,04 gam ma tuý, loại Heroin để sử dụng và bán khi có người hỏi mua.

Hành vi của bị cáo Lê Quốc P đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Lê Mạnh T1 đủ yếu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố bị cáo Lê Quốc P về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Lê Mạnh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt của các bị cáo trong vụ án:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Đây là chất gây nghiện, có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung

Các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành vi đã thực hiện, trong đó Lê Quốc P là người người thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng và bán nên phải chịu trách nhiệm về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”, Lê Mạnh T1 là người thực hiện hành vi mua ma tuý để sử dụng trái phép nên phải chịu trách nhiệm về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Các bị cáo đều là những đối tượng đã từng bị kết án, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của các bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo sau khi thực hiện hành vi phạm tội đều thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Lê Quốc P đầu thú, bị cáo Lê Mạnh T1 có ông bà ngoại là người có công với cách mạng đều được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy

định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, vì vậy cần áp dụng những tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4]. Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5]. Về các tình tiết khác liên quan trong vụ án:

Theo lời khai của Lê Quốc P, người bán ma tuý cho bị cáo tên là H2, quá trình điều tra không xác định được danh tính của người này nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với ông Lê Văn T, bà Lê Thị B là bố mẹ đẻ của bị cáo Lê Quốc P không biết P bán ma túy và cất giấu ma túy trong nhà nên không có căn cứ để xử lý.

[6]. Về xử lý vật chứng:

  • Khối lượng ma tuý 0,025g, loại Heroin còn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong có ký hiệu M2 và khối lượng ma tuý 0,251g, loại Heroin còn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong do bưu điện phát hành đều là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên phải tịch thu tiêu huỷ
  • Toàn bộ vỏ bao gói của phong bì ký hiệu M1, M2, M3 và các gói nilon trong các phong bì này đều là các mẫu vật còn lại sau giám định, tất cả được đựng trong phong bì niêm phong do Phòng K Công an tỉnh T phát hành là vật chứng liên quan đến tội phạm nên phải tịch thu tiêu huỷ.
  • Đối với 01 điện thoại di động có ghi dòng chữ Iphone, bên trong lắp sim số 0822.717.222 của Lê Mạnh T1 sử dụng làm phương tiện liên lạc để mua ma tuý nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, bên trong lắp sim số 0918.487.920, Lê Quốc P khai sử dụng làm phương tiện liên lạc để bán ma tuý cho Lê Mạnh T1. Tuy nhiên, quá trình bỏ trốn, P đã làm rơi ở gần nhà, cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy nên không có căn cứ để xử lý.
  • Đối với 01 bơm kim tiêm, 01 ống nước cất, 01 cân loại cân tiểu ly, 01 bao tay loại bảo hộ lao động là vật chứng liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
  • Lê Quốc P bán ma tuý cho Lê Mạnh T1 nhận được số tiền 500.000 đồng. Đây là số tiền do phạm tội mà có nên phải truy thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 xe máy điện, nhãn hiệu ESPERO Classic pro, biển số 36AP-013.70 và 01 Đăng ký xe máy điện là tài sản chung của bị cáo Lê Mạnh T1 và vợ là chị Nguyễn Thị H1. Tại phiên toà, chị H1 đề nghị trả lại xe này cho chị do không biết T1 lấy xe để sử dụng đi mua ma tuý. Do đó, trả lại cho chị H1 xe máy điện có đặc điểm nêu trên cho chị H1 quản lý, sử dụng là phù hợp.

[7]. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Quốc P; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Mạnh T1.

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố: bị cáo Lê Quốc P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Lê Mạnh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Xử phạt:

  • Bị cáo LêPhương 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 29/10/2024.
  • Bị cáo Lê Mạnh T1 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 27/10/2024.

3. Xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu huỷ: toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,025 gam Heroin đựng trong phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi họ tên của Lê Minh T3, Vũ Ngọc S; toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,251 gam Heroin đựng trong phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi họ tên của Lại Thị Thanh L, Phạm Mạnh H2, Tống Hồng Q1; toàn bộ vỏ bao gói của các phong bì ký hiệu M1 bên trong đựng 01 (một) gói nilon, M2 bên trong đựng 01 (một) gói nilon, M3 bên trong đựng 02 (hai) túi nilon, tất cả đều được đựng trong 01 (một) phong bì Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết ghi họ tên của Trần Thị Thúy H3, Vũ Ngọc S; 01 bơm kim tiêm, 01 ống nước cất, 01 cân loại cân tiểu ly, 01 bao tay.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động có ghi dòng chữ Iphone, bên trong lắp sim số 0822.717.222.
  • Truy thu nộp ngân sách nhà nước: số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Lê Quốc P.
  • Trả lại cho chị Nguyễn Thị H1: 01 (một) xe máy điện, nhãn hiệu ESPERO Classic pro, biển số 36AP-013.70 và 01 (một) đăng ký xe máy điện.

Đặc điểm của các phong bì niêm phong và các vật chứng, giấy tờ nêu trên theo Biên bản giao nhận vật chứng số 15/TV-CCTHA ngày 07/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã B và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

4. Án phí: buộc các bị cáo Lê Quốc P và Lê Mạnh T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cơ quan điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã Bỉm Sơn;
  • - Nhà tạm giữ Công an thị xã Bỉm Sơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Bỉm Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đào Văn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA về hình sự: mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khoảng 17 giờ 45 phút ngày 27/10/2024, tại Khu phố I, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, Lê Quốc P đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy có trọng lượng 0,271 gam, loại Heroin với giá 500.000 đồng cho Lê Mạnh T1 để sử dụng. Ngoài ra, P còn tàng trữ 0,04 gam ma tuý, loại Heroin để sử dụng và bán khi có người hỏi mua.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger