|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày 25 - 02- 2025
Về việc “Tranh chấp về ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Hồng Nhân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Triệu
- Bà Trần Thanh Duyên
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Khánh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia
phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Ngọc B, sinh năm 1962 (có đơn xin giải quyết
vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm I, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: Ông Thạch S, sinh năm 1955 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 10 năm 2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Thạch Thị Ngọc B trình bày:
Vào năm 1979, bà và ông Thạch S có tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau như vợ chồng. Ông bà không có đăng ký kết hôn.
Sau khi kết hôn 02 vợ chồng sống không hạnh phúc, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẩn. Hai vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau do bất đồng quan điểm. Ông Sa M không lo làm ăn mà tụ tập bạn bè uống cà phê, xem phim và chơi bi da. Năm 1992, bà lên Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn và gởi con bên nhà anh chị em ruột của bà. Sau thời gian thì ông S đã lấy vợ khác. Và từ thời gian đó thì bà không có liên hệ với ông S nữa. Từ đó bà và ông Sa M bắt đầu ly thân từ đó đến nay. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông S.
Về con chung: 02 người con chung tên Thạch Hoàng Â, sinh ngày 09/6/1980 và Thạch Hữu Đ, sinh ngày 26/6/1983, hai người con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Thạch S đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa án cũng như không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật của vụ án: “Tranh chấp về ly hôn”, bị đơn ông ông Thạch S có nơi cư trú tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, căn cứ vào khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Giữa bà Thạch Thị Ngọc B và ông Thạch Sa M xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 1979, nhưng không có đăng ký kết hôn. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 35/2000/QH1009/6/2000 của Quốc hội thì nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân trước ngày 03/01/1987 là hôn nhân thực tế, được pháp luật bảo vệ. Bà B và ông S chung sống đến năm 1992 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn. Ông Sa M không lo làm ăn mà tụ tập bạn bè uống cà phê, xem phim và chơi bi da. Năm 1992, bà lên Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn và gởi con bên nhà anh chị em ruột của bà. Sau thời gian thì ông S đã lấy vợ khác. Và từ thời gian đó thì bà không có liên hệ với ông S nữa. Bà thấy rằng giữa bà với ông S không còn tình cảm vợ chồng đã mấy chục năm, hiện ông S đã có gia đình khác nên bà yêu cầu tiếp tục với ông Sa M.
Đối với ông Thạch S, kể từ ngày Tòa án thụ lý vụ án và tiến hành hòa giải, Tòa án triệu tập ông S tham gia hòa giải và phiên tòa xét xử nhưng ông S vẫn vắng mặt. Điều này cho thấy ông S không có thiện chí đoàn tụ gia đình với bà B. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng của bà B và ông S không còn yêu thương nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cho bà B và ông S ly hôn là có cơ sở.
[4] Về con chung: 02 người con chung tên Thạch Hoàng Â, sinh ngày 09/6/1980 và Thạch Hữu Đ, sinh ngày 26/6/1983, hai người con đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thạch Thị Ngọc B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[6] Án phí: Bà Thạch Thị Ngọc B là người cao tuổi nên được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/QH1009/6/2000 về thi hành Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà Thạch Thị Ngọc B. Cho bà Thạch Thị Ngọc B được ly hôn với ông Thạch S.
Con chung: 02 người con chung tên Thạch Hoàng Â, sinh ngày 09/6/1980 và Thạch Hữu Đ, sinh ngày 26/6/1983, hai người con đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Thạch Thị Ngọc B khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Bà Thạch Thị Ngọc B là người cao tuổi được miễn tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Hoàn trả cho bà B số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 00009737 ngày 09/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Bà Thạch Thị Ngọc B không phải nộp thêm. Ông Thạch S không phải chịu án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Sơn Thị Hồng Nhân |
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của bà Thạch Thị Ngọc B. Cho bà Thạch Thị Ngọc B được ly hôn với ông Thạch S.
