TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Ngày: | Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24-02-2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Bính
2. Bà Lê Thị Kiều Thu
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Thùy Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thơ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 340/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 799/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc H, sinh năm 1995
Địa chỉ: Khu phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Ông Đường Thanh N, sinh năm 1993
Địa chỉ: Khu phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/10/2024, bản tự khai, và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Ngọc H trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông Đ Thanh Nam tự nguyện tìm hiểu, sống chung và đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông N thường xuyên nhậu nhẹt và bạo lực gia đình dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Hiện nay vợ chồng không còn ai quan tâm đến ai, ông N thường xuyên bỏ nhà đi đâu không rõ, lâu lâu mới trở về. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Đường Thanh N.
- Về con chung: Bà và ông Đường Thanh N có một con chung tên Đường Ngọc Thanh N1, sinh ngày 19/8/2015. Bà yêu cầu nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Đường Thanh N nhưng bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải, nên không thể tiến hành hòa giải vụ án. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Ngọc H, xét xử cho bà Trần Ngọc H được ly hôn ông Đường Thanh N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Ngọc H yêu cầu được ly hôn ông Đường T và yêu cầu giải quyết về con chung, nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”; bị đơn có địa chỉ tại khu phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân, xét thấy:
Bà Trần Ngọc H và ông Đường Thanh N chung sống và đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 89/2015, quyển số 01/2015; ngày, tháng, năm đăng ký: ngày 08 tháng 6 năm 2015. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp.
Theo bà H trình bày, vợ chồng ông, bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Dù đã cố gắng nhưng vợ chồng không thể hàn gắn được. Hiện nay bà H và ông N đã sống ly thân, không ai quan tâm tới ai. Tòa án đã triệu tập ông N đến Tòa nhằm hòa giải, động viên để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông N không đến Tòa cũng như không có bất kỳ văn bản nào thể hiện quan điểm của mình, cho thấy ông N không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của vợ chồng. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà Trần Ngọc H yêu cầu ly hôn ông Đường T là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Bà Trần Ngọc H khai bà và ông Đường Thanh N có một con chung tên Đường Ngọc Thanh N1, sinh ngày 19/8/2015. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Đường Thanh N không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ông có nguyện vọng nuôi con hay không.
Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, để con phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Cháu N1 có giới tính nữ, đang trong giai đoạn phát triển tâm sinh lý nên cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ, tại Biên bản lấy lời khai ngày 29/10/2024 cháu N1 có thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ, nên giao cháu cho bà H nuôi dưỡng là hợp lý. Do đó, chấp nhận yêu cầu về việc nuôi con chung của bà Trần Ngọc H, bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà Trần Ngọc H chưa yêu cầu ông Đường Thanh N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.2] Về tài sản chung: Bà Trần Ngọc H và ông Đường Thanh N chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về nợ chung: Bà Trần Ngọc H và ông Đường Thanh N chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Trần Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Ngọc H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Ngọc H được ly hôn ông Đường T.
- Về con chung: Bà Trần Ngọc H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đường N, sinh ngày 19/8/2015. Ông Đường Thanh N có nghĩa vụ giao con chung cho bà Trần Ngọc H nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trần Ngọc H chưa yêu cầu ông Đường Thanh N cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà H, ông N có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Bà H không được ngăn cản ông N trong việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
Về án phí: Bà Trần Ngọc H chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 23 tháng 10 năm 2024, bà H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002234 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, nay chuyển 300.000 đồng sang án phí và sung công quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/02/2025). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Lê Thảo Nguyên |
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
