Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày: 24/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Thuỷ và bà Bùi Thị Nguyệt.

Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Trịnh Hải Hà – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Hồng T; tên gọi khác: không; sinh ngày: 25 tháng 5 năm 1995, tại C, Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ E, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp: 9/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông: Nguyễn Thế D (đã chết); con bà: Phan Thị T1; vợ: Bùi Thị T2; có 01 con: sinh tháng 12/2024; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 30/8/2024 hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
  2. Họ và tên: Lương Đức T3; tên gọi khác: không; sinh ngày: 10 tháng 02 năm 1996, tại C, Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo T; trình độ học vấn: lớp: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Lương Đức T4; con bà: Lại Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt ngày 30/8/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Tô Quang M; nơi cư trú: tổ A, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

2

* Người làm chứng: anh Nguyễn Văn Q; anh Nguyễn Tiến L; cháu Nguyễn Thế Minh N; sinh ngày: 05/11/2008; nơi cư trú: tổ A, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; người đại diện hợp pháp của cháu N: ông Nguyễn Thế V; sinh năm: 1966; nơi cư trú: tổ A, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Hồng T và Lương Đức T3 là bạn bè, cả hai đều sử dụng ma túy, loại MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA (thường gọi là thuốc lá C) từ khoảng năm 2023 đến nay. Trong các ngày 29/8 và 30/8/2024, T đã nhiều lần bán ma túy cho T3. Còn T3 với Tô Quang M quen biết qua mạng xã hội Facebook và T3 đã nhiều lần bán trái phép chất ma túy, loại MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA cho M, cụ thể:

Lần thứ nhất: khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 29/8/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên M đã nhắn tin cho T3 hỏi mua 01 điếu thuốc lá C, T3 đồng ý bán với giá 150.000 đồng. Sau đó, M nhờ anh Đặng Trung D1 ở tổ A khu H, phường M, thành phố C chuyển tiền vào số tài khoản 00010021996 của Lương Đức T3. Nhận được tiền, T3 liên lạc với Nguyễn Hồng T hỏi mua 1 điếu ma túy thuốc lá Chill với giá 100.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, T3 đến nhà T ở tổ E, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh mua được 01 điếu ma túy thuốc lá C đem đến khu vực bờ hồ B, phường C, thành phố C giao cho M, M đã sử dụng hết.

Lần thứ 2: khoảng 06 giờ ngày 30/8/2024, T nhắn tin bảo T3 có cơ hội mua 03 bao ma túy thuốc lá Chill chỉ với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, T3 chuyển khoản số tiền 220.000 đồng từ số tài khoản 00010021996 của T3 vào số tài khoản 033980233 của Nguyễn Hồng T. Nhận được tiền, T nhắn lại cho T3 là cứ chuyển khoản đủ tiền thì T3 sẽ nhận được 03 bao ma túy thuốc lá Chill. Một lúc sau, T3 đến nhà T mua của T 02 điếu ma túy thuốc lá Chill bằng số tiền đã chuyển khoản. Trên đường đi về, T3 đã làm rơi mất.

Lần thứ 3: khoảng 08 giờ ngày 30/8/2024, Tô Quang M liên lạc với Lương Đức T3 hỏi mua 03 điếu ma túy thuốc lá C, T3 đồng ý bán với giá 150.000 đồng/1 điếu. Sau đó, M gọi lại bảo chỉ mua 02 điếu, rồi M tiếp tục đến nhờ anh Đặng Trung D1 chuyển khoản vào số tài khoản của T3 số tiền 200.000 đồng, còn 100.000 đồng sẽ trả bằng tiền mặt. T3 đồng ý và hẹn M đến khu vực Hồ B để giao dịch. Nhận được tiền, T3 chuyển khoản cho T hai lần, một lần 200.000 đồng và một lần 540.000 đồng. Khoảng 05 phút sau, T3 đi xe mô tô đến nhà T, T đưa cho T3 16 điếu loại ma túy thuốc lá Chill. Sau đó, T3 đem đến khu vực đường T, đoạn đầu ngã ba rẽ xuống hồ B giao cho M 01 túi nilon đựng 02 điếu, M đưa lại cho T3 100.000 đồng còn lại, vừa giao dịch xong thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

3

Vật chứng thu giữ, gồm:

  • Trên tay trái của Tô Quang M đang cầm: 01 túi nilon kích thước khoảng (12,5x7,3)cm, bên trong có 02 (hai) điếu thuốc lá màu trắng xanh, trên vỏ có dòng chữ “Rollo”, M khai nhận đây là thuốc lá chill vừa mua của Lương Đức T3; trên tay phải của Tô Quang M đang cầm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu bạc, lắp sim số 0876041943.
  • Thu giữ trên tay trái của T3: 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, T3 khai là tiền vừa bán ma tuý thuốc lá chill cho M; Thu giữ trong túi quần bên phải phía trước của T3: 01 túi nilon kích thước khoảng (7x11,5)cm, bên trong có 07 điếu thuốc lá màu trắng xanh, trên vỏ có dòng chữ “Rollo”; 01 túi nilon kích thước khoảng (7x11,5)cm, bên trong có 06 điếu thuốc lá màu nâu. T3 khai nhận đều là ma tuý loại thuốc lá chill; T5 trong tay phải của T3: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu xanh bên trong lắp sim số 0353.748.169 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, vỏ màu xanh đen, gắn biển số 14K6-4095.
  • Tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Hồng T, thu giữ của T: 01 điện thoại IPHONE vỏ màu vàng, lắp sim số 0339.808.233.

Tại các bản kết luận giám định số 6749 và 6750/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của V1 - Bộ C1, kết luận: mẫu thực vật khô trong các điếu thuốc lá thu giữ của Tô Quang M và Lương Đức T3 ngày 30/8/2024 gửi giám định đều chứa chất ma tuý MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA. Tổng khối lượng mẫu trong các niêm phong lần lượt là 2,000 gam và 14,382gam; Tìm thấy sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý MDMB-BUTINACA trong mẫu nước tiểu ghi thu của Lương Đức T3 và Tô Quang M gửi giám định. V1 hiện không có mẫu chuẩn định lượng chất MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA nên không xác định được hàm lượng để định lượng các mẫu gửi giám định.

Tại phiên toà Nguyễn Hồng T và Lương Đức T3 khai nhận toàn bộ hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra. Nguyễn Hồng T khai về nguồn gốc số ma túy T bán cho T3 do T mua của một người không quen biết trên mạng xã hội Facebook vào sáng ngày 25/08/2024, tổng số 10 bao (mỗi bao là 01 túi nilon đựng 07 điếu) với giá 2.500.000 đồng, nhận ma tuý và trả tiền qua xe khách (T không nhớ tên nhà xe và biển số xe), mục đích để bán và sử dụng. Sau đó, tài khoản Facebook của người bán ma túy đã dừng hoạt động và bị khóa. T đã sử dụng hết khoảng 04 bao, bán cho T3 tổng 19 điếu, còn lại khoảng 03 bao, do lo sợ bị bố mẹ phát hiện nên T cất giấu tại bụi cây, gần giếng cạnh nhà của T, T đã chỉ địa điểm để Cơ quan điều tra thu giữ, nhưng đã bị mất, không biết ai lấy. Ngoài ra, T và T3 đều khai: T chỉ bán ma túy cho T3 và T3 chỉ bán ma túy cho M và chưa bán cho ai khác.

Tại bản Cáo trạng số: 632/CT-VKSCP ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh truy tố Nguyễn Hồng T, Lương

4

Đức T3 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 (Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với T3) xử phạt: Nguyễn Hồng T mức án từ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng đến 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù; xử phạt: Lương Đức T3 mức án từ 07(bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng điểm a, b, c khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định và 02 chiếc sim điện thoại; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone của T, 01 điện thoại Samsung và số tiền 100.000 đồng của T3. Buộc bị cáo T nộp lại số tiền 1.060.000 đồng và T3 nộp lại số tiền 350.000 đồng thu lời bất chính nộp ngân sách Nhà nước

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: tại phiên tòa các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Thế Minh N, phù hợp với lời khai các anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Tiến L về thời gian, địa điểm, loại ma tuý mà bị cáo T3 bán cho M; các bị cáo nhận dạng được nhau, anh Nguyễn Thế Minh N, Tô Quang M nhận dạng được Lương Đức T3 qua ảnh; phù hợp với các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; phù hợp với các biên bản làm việc xác định địa điểm giao nhận ma tuý và tiền của các đối tượng mua bán; phù hợp với bản ảnh vật chứng; phù hợp với biên bản kiểm tra điện thoại di động của Lương Đức T3, Tô Quang M, Nguyễn Hồng T, phù hợp với sổ phụ tài khoản tiền gửi của Nguyễn Hồng T, Lương Đức T3. Tại kết luận giám định số 6749/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của V1 Bộ C1 thể hiện chất ma tuý thu giữ của T và T3 là: chất ma tuý MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA phù hợp với chất ma tuý tìm thấy

5

trong mẫu nước tiểu của Tô Quang M, Lương Đức T3 (tại kết luận giám định số 6750/ KL-KTHS ngày 06/9/2024).

Với các chứng cứ trên cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: trong các ngày 29/8/2024 và 30/8/2024, tại phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Hồng T đã 03 lần bán trái phép cho Lương Đức T3, tổng số 19 điếu thuốc lá có chứa loại ma tuý MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA, với tổng số tiền là 1.060.000 đồng. Lương Đức T3 đã 02 lần bán trái phép cho Tô Quang M, tổng số 03 điếu thuốc lá có chứa loại ma tuý MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA, với tổng số tiền là 450.000 đồng. Hành vi nhiều lần bán ma tuý của Nguyễn Hồng T, Lương Đức T3 đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự nên có cơ sở chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Các bị cáo đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy đồng thời tiếp tay cho các đối tượng mua bán, nghiện hút ma tuý khác gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo.

[4] Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T3 được Chủ tịch UBND phường C và chủ tịch UBND thành phố C tặng giấy khen vì đã có tinh thần xung phong tình nguyện lên đường nhập ngũ bảo vệ tổ quốc năm 2019 nên được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, phạm tội độc lập.

[5] Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung song xét các bị cáo là đối tượng không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng.

[6] Về vật chứng: số ma tuý Cơ quan điều tra thu giữ của T và T3 sau giám định hoàn lại và toàn bộ vỏ bao gói mẫu được niêm phong trong phong bì số 6749/KL-KTHS ngày 06/9/2024 là vật nhà nước cấm lưu hành và 02 sim điện thoại là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu huỷ.

Cơ quan điều tra thu giữ 01 điện thoại Iphone của T, 01 điện thoại Samsung thu giữ của T3 là phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Số tiền T bán ma tuý: 1.060.000 đồng (một triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) và T3 bán ma tuý 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) (trong đó: đã thu giữ 100.000 đồng của T3) còn 350.000 đồng là tiền thu lợi bất chính cần buộc bị cáo T, T3 nộp lại tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

6

Số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) thu giữ của T3 thu lợi bất chính cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: bị cáo T, T3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Đối với Tô Quang M có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA, Công an thành phố C đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính và trả lại điện thoại OPPO cho M đến nay M không còn yêu cầu nào khác nên không đề cập.

Đối với người đã bán ma túy cho Nguyễn Hồng T, do không biết lai lịch địa chỉ, nên đủ có căn cứ làm rõ.

Đối với Nguyễn Thế Minh N chở Tô Quang M đi mua ma túy của Lương Đức T3, nhưng không biết mục đích nên không đề cập xử lý.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, gắn biển số 14K6-4095 thu giữ của Lương Đức T3. Quá trình điều tra, T3 khai đã mua của một người không quen biết với giá 3.000.000 đồng, nhưng T3 đã làm mất giấy tờ xe. Tiến hành tra cứu xác định chủ xe là chị Nguyễn Thị Phương H1 ở tổ F, phường C, thành phố C. Xác minh tại phường C, xác định trên địa bàn không có người nào tên Nguyễn Thị Phương H1 có thông tin như trên, nên Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 ( áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với Lương Đức T3) Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Nguyễn Hồng T, Lương Đức T3 phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Nguyễn Hồng T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 30/8/2024.

Xử phạt: Lương Đức T3 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 30/8/2024.

Về vật chứng: căn cứ điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:

Tịch thu và tiêu huỷ: 02 phong bì còn nguyên niêm phong số 6749/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của V1 bộ C1; 02 sim điện thoại (của T và T3);

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh của Lương Đức T3; 01 điện thoại Iphone màu vàng của Nguyễn Hồng T.

7

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) theo biên bản giao nhận tài sản số 87/2024/BBBG-CQCSĐTCATPCP ngày 26/12/2024 giữa Công an thành phố C và Kho bạc Nhà nước.

Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 54/BB-THA ngày 14/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Buộc bị cáo T nộp lại số tiền 1.060.000 đồng (một triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) và T3 nộp lại số tiền 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc Nguyễn Hồng T, Lương Đức T3 mỗi người phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh QN;
  • - VKSND tỉnh QN;
  • - VKSND TP.Cẩm Phả;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP.Cẩm Phả;
  • - Cơ quan THAHS CA TP.Cẩm Phả ;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh QN;
  • - Chi cục THADS TP.Cẩm Phả;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Th và T mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger