|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 12/2025/DSST Ngày 21 - 02-2025 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Hải Yến
Hội thẩm nhân dân: Bà Tô Thị Hương
Ông Trần Văn Hiểu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐ - ST ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
-
Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1)
Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, Chức vụ: Tổng giám đốc
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Tuấn A – Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm xử lý nợ (văn bản uỷ quyền số 38a/2024/UQN-CTQT ngày 01/6/2024)
Người được uỷ quyền lại: Ông Nguyễn Ngọc T – Chuyên viên xử lý nợ (có mặt).
-
Công ty Cổ phần M1
Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà C, số B phố T, phường Y, quận C, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Anh T1 – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phan Huy M - Chức vụ: Giám đốc Trung tâm xử lý nợ (Văn bản uỷ quyền số 06/2024/UQ-TGĐ ngày 11/7/2024).
Người được uỷ quyền lại: Ông Vũ Hoàng A1 và ông Dư Hà Công D1 – Chuyên viên xử lý nợ. (văn bản uỷ quyền ngày 22/01/2025, có mặt ông D1).
- Bị đơn: Chị Nông Thị C, sinh năm 1996; trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1992; trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (văn bản uỷ quyền ngày 14/01/2025).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1992; trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (có đơn xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, người đại diện cho nguyên đơn trình bày:
Ngày 21/3/2022, chị Nông Thị C có ký vay vốn tại Ngân hàng TMCP V theo Hợp đồng cho vay số LN2203145363676, số tiền vay 495.000.000 đồng; thời hạn vay 96 tháng; mục đích sử dụng vốn thanh toán tiền mua xe ô tô; Lãi suất 9,8%/năm; lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân, sau đó sẽ được điều chỉnh; mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 12 tháng được bên Ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 4,1%/năm; lãi suất chậm trả bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay: 01 xe ô tô nhãn hiệu Honda City RS, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô Biển kiểm soát 17A-288.23 ngày 18/3/2022 theo Hợp đồng thế chấp số LN2203145363676 ngày 18/3/2022 giữa Ngân hàng với anh S, chị C.
Ngày 30/6/2024 giữa Ngân hàng TMCP V và Công ty cổ phần M1 ký Hợp đồng mua bán nợ số 07/2024/VPB-Jupiter và Phụ lục hợp đồng đính kèm, theo đó V1 đồng ý bán và Công ty cổ phần M1 đồng ý mua khoản nợ của khách hàng vay là chị Nông Thị Chiêm bao G các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo Hợp đồng cho vay mà chị Nông Thị C đã ký kết với V2, là Hợp đồng cho vay số LN 2203145363676, các bên thống nhất, tỷ lệ dư nợ là tỷ lệ sở hữu khoản nợ của mỗi bên, cụ thể bên bán nợ sở hữu 10% của nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có), bên mua nợ sở hữu 90% tính trên số dư nợ gốc, nợ lãi trong hạn (không bao gồm lãi trong hạn của kỳ hiện tại), nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo văn kiện tín dụng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, chị Nông Thị C mới trả được 51.500.002 đồng tiền gốc và tiền lãi đến ngày 28/02/2023. V2 và Công ty cổ phần M1 (sau đây gọi là Công ty M1) đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu bà C thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng chị C không thực hiện. Từng ngày 16/10/2023 Ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn.
Nay Ngân hàng TMCP V đồng khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết những yêu cầu sau:
Buộc chị Nông Thị C phải thanh toán trả cho V2 và Công ty M1 tính đến ngày 21/02/2025 số tiền nợ gốc là 443.499.998 đồng, trong đó V2 là 44.350.000 đồng, Công ty M1 là 399.149.998 đồng; lãi trong hạn: 3.322.603 đồng; lãi quá hạn: 165.935.222 đồng và tiền phạt chậm trả lãi trong hạn là 3.693.534 đồng, số tiền lãi chia theo tỷ lệ Ngân hàng V2 10%, Công ty M1 90%.
Trường hợp chị Nông Thị C không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty M1 và/hoặc V2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên phát mại tài sản đảm bảo là 01 xe ô tô nhãn hiệu Hondao City RS, số khung PLHGN2681NY100254, số máy L15ZC200312; Biển kiểm soát 17A-288.23 do Phòng C2 công an tỉnh T cấp ngày 18/3/2022 để thu hồi nợ.
Trường hợp xử lý Tài sản bảo đảm nhưng không thanh toán đủ khoản vay, chị Nông Thị C có trách nhiệm trả nợ tiếp cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay.
Bị đơn chị Nông Thị C có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình nhưng chị C không có mặt tại địa phương nên Toà án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn, anh Hoàng Văn S trình bày:
vợ anh là chị Nông Thị C có ký Hợp đồng vay vốn với Ngân hàng V2 để vay số tiền 495.000.000 đồng, thời hạn vay 96 tháng; mục đích vay để thanh toán tiền mua xe ô tô; tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là 01 xe ô tô nhãn hiệu Honda City RS, biển kiểm soát 17A-288.23 do Phòng C2 công an tỉnh T cấp ngày 18/3/2022 mang tên Nông Thị C. Việc vợ anh ký vay vốn Ngân hàng A2 có biết, vì chị C vay tiền để mua xe tô phục vụ việc đi lại của cả gia đình. Sau khi vay vốn tại Ngân hàng, năm đầu tiên gia đình anh vẫn trả gốc, lãi đầy đủ, cụ thể đã trả được 51.500.002 đồng tiền gốc và 39.392.430 đồng tiền lãi. Trong quá trình làm ăn bị thua lỗ nên chiếc xe ô tô đã bị bắt nợ, hiện nay xe ở đâu vợ chồng anh cũng không biết. Nay Ngân hàng và Công ty M1 khởi kiện yêu cầu trả nợ và đề nghị phát mại xe, quan điểm của anh là: Vợ chồng anh vay vốn của Ngân hàng thì sẽ có trách nhiệm trả, tuy nhiên, do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, chỉ một mình anh đi làm, chị C mới sinh con nên vợ chồng anh chưa có khả năng trả nợ, gia đình anh xin được trả nợ dần.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải phát biểu ý kiến:
- + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ theo quy định của pháp luật.
- + Về nội dung: áp dụng các Điều 26, 147 BLTTDS, Điều 463, 466 BLDS, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng:
- - Buộc chị Nông Chị C1 và anh Hoàng Văn S phải trả cho Ngân hàng V2 và Công ty M1 tiền nợ gốc, tiền nợ lãi, tiền lãi chậm trả của lãi trong hạn theo tỷ lệ sở hữu Ngân hàng V2 10%, Công ty M1 90% và lãi phát sinh. Nếu chị C1, anh S không trả thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số LN2203145363676 ngày 18/3/2022 giữa Ngân hàng với chị C1, anh S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Nông Thị C vắng mặt, uỷ quyền cho anh Hoàng Văn S tham gia tố tụng, anh S có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án xét xử vắng mặt.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Hợp đồng cho vay số LN2203145363676 ngày 21/3/2022 được ký kết giữa Ngân hàng với chị Nông Thị C trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau khi ký hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 495.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, chị C đã trả số tiền nợ gốc là 51.500.002 đồng và trả lãi đến hết tháng 02/2023. Từ ngày 16/10/2023 Ngân hàng chuyển toàn bộ nợ gốc còn lại sang khoản nợ quá hạn. Ngày 30/6/2024, Công ty M1 ký Hợp đồng mua bán nợ, theo đó Công ty M1 mua 90% nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có), Ngân hàng sở hữu 10% còn lại. Như vậy, Công ty M1 và Ngân hàng đều có quyền khởi kiện yêu cầu chị Nông Thị C phải thanh toán trả tiền gốc, lãi và lãi phát sinh theo quy định của pháp luật. Tính đến ngày 17/02/2025, tổng số tiền chị C còn nợ Ngân hàng và Công ty M1 là 616.451.358 đồng. Trong đó, nợ gốc là 443.499.998 đồng; lãi trong hạn 3.322.603 đồng; Lãi quá hạn: 165.935.222 đồng; lãi chậm trả: 3.693.534 đồng.
Về nghĩa vụ trả nợ: Hợp đồng cho vay do một mình chị C ký, nhưng anh S cũng xác nhận mục đích vay là để mua xe ô tô phục vụ việc đi lại cho cả gia đình, vợ chồng anh có trách nhiệm trả cho Ngân hàng, do đó cần buộc chị C, anh S phải liên đới trả số tiền trên cho nguyên đơn.
[2.2] Về lãi suất: Đối với khoản tiền lãi của Hợp đồng cho vay số LN2203145363676 ngày 21/3/2022; Hội đồng xét xử thấy: Đối với lãi trong hạn và lãi quá hạn các bên thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, do đó cần chấp nhận. Đối với yêu cầu tính lãi chậm trả của lãi trong hạn thấy: Tại điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạm vi phạm quy định: “Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn”. Cách lãi chậm trả của lãi trong hạn được Ngân hàng áp dụng: (lãi trong hạn x 10% x số ngày chậm trả) : 365 ngày, mức lãi suất phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[2.3] Về hợp đồng thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay, giữa Ngân hàng và chị Nông Thị C, anh Hoàng Văn S đã ký Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2203145363676 ngày 18/3/2022, thế chấp 01 xe ô tô nhãn hiệu Honda City RS, BKS kiểm soát 17A-288.23 mang tên Nông Thị C. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Đà Nẵng vào ngày 21/3/2022. Tại Điều 3 Hợp đồng thế chấp xác định nghĩa vụ được bảo đảm gồm: đảm bảo cho việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai của bên được bảo đảm đối với bên Ngân hàng phát sinh từ các Văn kiện tín dụng được xác lập, ký kết giữa được bảo đảm đối với bên Ngân hàng và bên liên quan khác (nếu có) trước, trong và sau ngày ký hợp đồng này. Hợp đồng cho vay số LN2203145363676 ngày 21/3/2022 được ký kết trong khoảng thời gian nêu trên nên được đảm bảo bằng tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp ô tô số LN2203145363676 ngày 18/3/2022. Xét thấy: Hợp đồng thế chấp tuân thủ đúng quy định pháp luật về mặt nội dung cũng như hình thức nên Ngân hàng hoàn toàn có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp nếu chị C, anh S không trả tiền, do đó cần chấp nhận.
[3] Từ những phân tích trên có cơ sở để chấp nhận toàn bộ phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về chi phí tố tụng: Ngân hàng đã thanh toán xong, không đề nghị Toà án giải quyết.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí, trả lại nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp. Chị Nông Thị C, anh Hoàng Văn S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 293; Điều 298; Điều 299; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010; Khoản 2 điều 8 và khoản 1 điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí phí Toà án.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V (V2) và Công ty cổ phần M1:
-
Buộc chị Nông Thị C và anh Hoàng Văn S phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V và Công ty cổ phần M1 theo Hợp đồng cho vay số LN2203145363676 ngày 21/3/2022:
- - Nợ gốc là 443.499.998 đồng trong đó Công ty M1 là 399.149.998 đồng, Ngân hàng V2 là 44.350.000 đồng;
- - Lãi trong hạn: 3.322.603 đồng trong đó Công ty M1 là 2.990.342 đồng; Ngân hàng V2 là 332.260 đồng;
- - Lãi quá hạn: 165.935.222 đồng trong đó Công ty M1 là 149.341.700 đồng; Ngân hàng V2 là 16.593.522 đồng;
- - Lãi chậm trả: 3.693.534 đồng trong đó Công ty M1 là 3.324.180 đồng; V2 là 369.353 đồng.
- Trường hợp anh S, chị C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V2 hoặc/và Công ty cổ phần M1 có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ, tài sản là quyền sở hữu, sử dụng chiếc xe ô tô nhãn hiệu 01 xe ô tô nhãn hiệu Honda City RS, số khung PLHGN2681NY100254, số máy L15ZC200312; Biển kiểm soát 17A-288.23 do Phòng C2 công an tỉnh T cấp ngày 18/3/2022 mang tên Nông Thị C theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN2203145363676 ngày 18/3/2022.
Trường hợp số tiền thu được sau khi phát mại tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh S, chị C vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ ngân hàng cho đến khi tất toán.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
-
Buộc chị Nông Thị C và anh Hoàng Văn S phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V và Công ty cổ phần M1 theo Hợp đồng cho vay số LN2203145363676 ngày 21/3/2022:
- Về án phí: Anh Hoàng Văn S, chị Nông Thị C phải chịu 28.658.054 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng V2 và Công ty cổ phần M1 không phải chịu án phí, trả lại Ngân hàng 1.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 00022852 ngày 13/12/2024, trả lại Công ty M1 số tiền 12.400.000 đồng tiền tạm ứng đã nộp tại Biên lai thu số 0002851 ngày 13/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP V, Công ty cổ phần M1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Hoàng Văn S, chị Nông Thị C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lương Hải Yến |
Bản án số 12/2025/DSST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 12/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP V (V1), Công ty Cổ phần M1 - Nông Thị C: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
