Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

THÀNH PHỐ HUẾ

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày: 20/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Cường và bà Dương Thị Thu Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, thành phố Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, thành phố H - số F Đ, phường P, thị xã H, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, đối với:

Bị cáo Mai Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 24 tháng 3 năm 1983 tại thành phố H; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, thị xã H, thành phố H; nơi ở hiện tại: Tổ dân phố H, phường L, quận P, thành phố H; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn T1 (chết) và bà Nguyễn Thị N; vợ: Lê Thị Hồng N1 (đã ly hôn từ năm 2011); con: có 01 con (sinh năm 2010); nhân thân: N2 ở với gia đình và đi học đến lớp 12; từ năm 2003 đến năm 2006, tham gia nghĩa vụ quân sự tại Trung đoàn A, sư đoàn I đóng quân tại phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H).

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Bị hại: Bà Trương Thị B, sinh năm 1975; địa chỉ: Số E đường V, Tổ E, phường T, thị xã H, thành phố H, có mặt.

Người làm chứng:

+ Anh Phạm C, sinh năm 1998; địa chỉ: Tổ E, phường T, thị xã H, thành phố H, vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ E, phường T, thị xã H, thành phố H, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 29 tháng 6 năm 2024, Mai Văn T, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75B1-150.43 (xe mô tô của T), đi vào khu vực bãi đất trống ven đường Q, ở Tổ A- phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) để đi vệ sinh. Tại đây, T phát hiện có xe mô tô biển kiểm soát 75G1- 007.91, của bà Trương Thị B, sinh năm 1975, trú tại tổ E, phường T, thị xã H, thành phố H đang dựng tại bãi đất và không có người trông coi (bà B đang đi hái lá tràm); T quan sát thấy dưới yên xe có một phần dây túi xách nằm ra ngoài cốp xe. Lúc này, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bà B, T đi đến dùng tay kéo yên xe lên để hở phần cốp xe rồi dùng tay kéo túi xách trong cốp xe ra, trong khi kéo túi xách ra thì có nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng rơi ra ngoài. Thấy vậy, T bỏ túi xách vào lại trong cốp xe, rồi nhặt số tiền rơi trên mặt đất và đếm được tổng số tiền là 72.000.000 đồng. T nhặt 01 miếng bỏ tiền vào rồi đem cất giấu ở bụi cây gần khu vực xe mô tô của bà B để sau này có điều kiện thuận lợi sẽ đến lấy.

Sau khi cất giấu số tiền trên, T lo sợ bị phát hiện và xử lý nên đi ra quán tạp hoá ở đường T (không nhớ địa chỉ), mua 01 cây bút, rồi về lại chỗ để xe của bà B nhưng bà B đã lấy xe đi về nhà. T nhặt miếng bìa giấy cát tông và viết trên bìa giấy với nội dung: “xin liên hệ cho tôi 0905.570.xxx Thạnh”, rồi để lại tại hiện trường, sau đó T điện khiên xe mô tô về nhà (theo lời khai của T để lại số điện thoại như vậy là phòng khi bà B phát hiện mất tiền và nhặt được tờ giấy nói trên liên lạc với T thì T sẽ đến trả lại tiền để tránh bị xử lý).

Đến sáng ngày 02/7/2024, bà B phát hiện mất tiền nên cùng người trong gia đình đến tại vị trí để xe trước đó để tìm thì nhặt được tờ giấy nói trên, liên lạc được với T, đồng thời báo Công an.

Tại Cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nói trên.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm:

  • - Thu giữ của Mai Văn T, gồm: Số tiền 72.000.000 đồng. (bảy mươi hai triệu đồng) gồm 144 tờ tiền ngân hàng N3, mệnh giá 500.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, hiệu Jupiter, biển kiểm soát: 75B1-150.43 màu đỏ đen, số khung 50CY-017297, số máy 31CA-019697.
  • - Thu giữ của bà Trương Thị B: 01 túi xách màu đen, chất liệu bằng vải cotton, phía trên có dòng chữ “JIELSHI Light Life”; túi xách bị rách 1 dây đeo (đã qua sử dụng).
  • - Thu giữ 01 tờ giấy bằng bìa cát tông, một mặt có dòng chữ “Xin liên hệ cho tôi 0905.570.xxx Thạnh”, mặt còn lại có các dòng chữ “Size 25x18”, “CS1: 37. Hồ Đắc D - P. P - TP H; CS2: 151.Bà T2-P.X-Tp., 0935.958.883- 0962.152.421”, “KT:25x25x18”, “Bánh kem Yuki Huế -Since 2016”.

Đối với cây bút sa bị cáo T đã vứt, không nhớ địa điểm ở đâu, quá trình điều tra không thu giữ được.

Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền 72.000.000 đồng; 01 túi xách cho bà Trương Thị B.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Trương Thị B đã nhận lại tài sản và yêu cầu bị cáo Mai Văn T phải bồi thường thiệt hại túi xách bị rách số tiền 200.000 đồng. Bị cáo Mai Văn T đã bồi thường theo yêu cầu của bà Trương Thị B số tiền là 200.000 đồng, bà B đã nhận đủ số tiền trên nên không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Mai Văn T từ 1 năm 6 tháng đến 1 năm 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 3 năm đến 3 năm 6 tháng. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường L, quận P, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, hiệu Jupiter, biển kiểm soát: 75B1-150.43 màu đỏ đen, số khung 50CY-017297, số máy 31CA-019697.

Tại phiên tòa, bị cáo Mai Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố; tỏ ra ăn năn, hối hận về hành vi đã gây ra. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, làm công dân tốt cho xã hội.

Bị hại đã nhận số tiền 200.000 đồng bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại túi xách bị hỏng và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Đã có cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ ngày 29/6/2024, tại tổ A, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); Mai Văn T đã có hành vi lén lút dùng tay mở cốp xe của bà Trương Thị B trộm cắp tài sản của bà B số tiền 72.000.0000 đồng (bảy mươi hai triệu đồng) rồi đem cất giấu ở bụi cây gần khu vực xe mô tô của bà B. Sau đó do lo sợ bị phát hiện và bị xử lý nên T đã để lại miếng bìa giấy cát tông và viết trên bìa giấy với nội dung: “xin liên hệ cho tôi 0905.570.xxx Thạnh”, rồi để lại tại hiện trường. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo theo bản cáo trạng số 04/CT-VKSHTh ngày 25/12/2024 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ nhưng vì lòng tham nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tuy nhiên cũng cần xem xét cho bị cáo mặc dù đã lấy tài sản đem đi cất giấu và hoàn thành hành vi chiếm đoạt nhưng vẫn có ý định trả lại cho chủ sở hữu khi bị cáo chưa bị phát hiện. Do đó cũng cần xem xét mức độ quyết tâm thực hiện tội phạm của bị cáo để đánh giá và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo Mai Văn T có nhân thân tốt. Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội và chú ruột là liệt sĩ, bị cáo cũng đã từng có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ vào đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Mai Văn T có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh gia đình có người thân có công với cách mạng, xét hành vi phạm tội của bị cáo chỉ mang tính chất nhất thời, bị cáo có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo được nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng, cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, đồng thời đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại túi xách 200.000 đồng, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, hiệu Jupiter, biển kiểm soát: 75B1-150.43 màu đỏ đen, số khung 50CY-017297, số máy 31CA-019697; đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội.

[8] Về án phí: Bị cáo Mai Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Mai Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Mai Văn T cho Ủy ban nhân dân phường L, quận P, thành phố H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:

Trả lại cho bị cáo Mai Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, hiệu Jupiter, biển kiểm soát: 75B1-150.43 màu đỏ đen, số khung 50CY-017297, số máy 31CA-019697;

(Vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Mai Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan CSĐT CA thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan THAHS CA thị xã Hương Thủy;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - UBND phường Long Hồ, quận Phú Xuân, thành phố Huế;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh Châu

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Văn T tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger