Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 19/02/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Tuyết

Thẩm phán: Bà Phạm Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huyên

Bà Dương Thị Kim Hồng

Bà Phạm Thị Thà

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Hữu Thắng - Thư ký Toà án nhân tỉnh Hải Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST- HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị N – sinh ngày 02 tháng 7 năm 2003; Nơi sinh: Hải Dương; Nơi ĐKHKTT: KDC K, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn A và bà Dương Thị T; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ 3; có chồng là Nguyễn Văn B, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/01/2024, ngày 30/01/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Trung K – Luật sư thuộc Văn phòng L, Đoàn luật sư tỉnh H; địa chỉ: Số A Hồ N, thành phố H, tỉnh Hải Dương (Có mặt).

* Bị hại: Anh Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Người đại diện theo ủy quyền của anh T1: Anh Lê Ngọc T2, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ dân phố B, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội (Đều vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 2002; địa chỉ: thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương (Có mặt).

* Người làm chứng: Các chị Lương Ngọc Á, sinh năm 2003; Vũ Thị H, sinh năm 1995; Nguyễn Thị H1, sinh năm 1980; Nguyễn Thị K1, sinh năm 1984; Lê Thị H2, sinh năm 1996; Nguyễn Thị Phương T3, sinh năm 1997. Các anh Lục Văn P, sinh năm 1990; Nguyễn Quang B1, sinh năm 1980; Nguyễn Văn T4, sinh năm 1992; Phạm Văn T5, sinh năm 1981; Đặng Văn Q, sinh năm 1991; Nguyễn Duy B2, sinh năm 1981(Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị N mở cửa hàng bán quần áo mang tên “Phương Nga” tại thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương nhưng không đăng ký kinh doanh; sử dụng tài khoản Facebook “Phương N1” để đăng các video và bài viết bán hàng quần áo, giầy dép giá sỉ. Anh Nguyễn Xuân T1 đã từng mua quần áo trên livestraem của N1 và có ý định bán giầy thể thao si tuyển (giầy thể thao do các hãng giầy lớn sản xuất, đã qua sử dụng) nên ngày 04/01/2024, anh T1 sử dụng tài khoản Facebook “Thái C” nhắn tin với tài khoản Facebook của N1 để hỏi mua giày thể thao loại si tuyển. Do cần tiền chi tiêu nên N1 đưa ra thông tin với anh T1 về việc: N1 có thể lấy được giầy thể thao si tuyển với số lượng lớn, cam kết hàng chính hãng với giá giầy nam là 95.000đồng/01 đôi, giầy nữ là 85.000đồng/01đôi; nếu anh T1 mua 300 đôi thì N1 sẽ lấy giá 85.000đồng/01 đôi giầy nam và 80.000đồng/01 đôi giầy nữ. Tin tưởng thông tin N1 đưa ra là thật nên anh T1 đã đặt mua 200 đôi giầy nam, 100 đôi giầy nữ và chuyển khoản 10.000.000đồng đến tài khoản V1 số 1022792086 của N1 để đặt cọc. Sau khi nhận được tiền, N1 sử dụng để chi tiêu cá nhân và nạp tiền vào trò chơi đánh bạc trực tuyến trên mạng và bị thua hết tiền.

Để có tiền đánh bạc và chi tiêu cá nhân nên từ ngày 05/01/2024 đến ngày 19/01/2024, N1 tiếp tục bảo anh T1 mua thêm giầy, chung vốn mua giày thể thao si tuyển tại Trung Quốc, hàng đã về đến cửa khẩu nhưng thiếu tiền thanh toán và hỏi vay anh T1 tiền để trả tiền hàng, nếu anh T1 không cho vay thì N1 sẽ không có hàng để giao cho anh T1. Để anh T1 tin tưởng, N1 đã hứa hẹn sẽ cho anh T1 01 tài khoản mạng xã hội Tik Tok có nhiều lượt người theo dõi để anh T1 bán hàng. Ngoài ra, N1 còn sử dụng điện thoại di động của anh Nguyễn Văn B (chồng N1) đăng nhập vào tài khoản zalo của anh B, đổi ảnh đại diện và tên hiển thị thành “Vận chuyển Việt Trung” để nhắn tin với anh T1 giới thiệu tên là N2 và xác nhận việc N1 có đơn hàng giầy thể thao được vận chuyển từ Trung Quốc về Việt Nam. Do tin tưởng những thông tin trên nên anh T1 đã nhiều lần chuyển tiền đến tài khoản của N1 với tổng số tiền 787.500.000đồng. Sau khi nhận được tiền, N1 sử dụng đánh bạc, chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 21/01/2024, N1 tiếp tục đưa ra thông tin không có thật về việc N1 nợ tiền hàng xóm nên bị chặn xe hàng, chỉ có thể giao được cho anh T1 600 đôi giầy và yêu cầu anh T1 khi nhận hàng phải chuyển cho N1 15.000.000đồng. Sau đó N1 gửi 200 đôi giầy đến cho anh T1; anh T1 chuyển 15.000.000đồng đến tài khoản của N1. Sau khi nhận hàng, anh T1 kiểm tra giầy không phải là hàng si tuyển nên yêu cầu trả lại hàng; N1 đã thuê xe ô tô đến lấy lại số giầy trên. Số tiền đã nhận của anh T1, N1 sử dụng để chi tiêu cá nhân và đánh bạc trên mạng.

Ngày 23/01/2024, anh T1 làm đơn tố cáo N1. Ngày 24/01/2024, N1 đến Cơ quan CSĐT- Công an huyện N đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Về việc quản lý vật chứng, trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, N1 giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, lắp sim số 0936.737.497; 12 kiện giầy loại đã qua sử dụng gồm 149 đôi giầy nữ và 418 đôi giầy nam; anh Nguyễn Văn B giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu đen, lắp sim số 0985.971.202.

Anh Nguyễn Xuân T1 yêu cầu N1 phải trả lại số tiền 812.500.000 đồng đã chiếm đoạt.

Tại Cáo trạng số: 90/CT-VKS- P1 ngày 19 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Thị N về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 38; Điều 48; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự . Xử phạt: Bị cáo N từ 12 năm 06 tháng đến 13 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo N có nghĩa vụ trả lại cho bị hại 812.500.000 đồng. Ngoài ra, còn đề nghị xem xét xử lý về vật chứng, án phí sơ thẩm hình sự và án phí sơ thẩm dân sự đối với bị cáo theo quy định.

* Bị cáo Nguyễn Thị N khai nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Đồng ý về tội danh, điều khoản áp dụng đối với bị cáo N như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo N được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức đại diện viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Bị hại, người đại điện bị hại vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; những người làm chứng vắng mặt lần thứ hai và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, Tòa án đã hoãn phiên tòa nên Hội đồng xét xử (HĐXX) tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[1.3] Qua việc hỏi làm rõ tại phiên tòa và các tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án thì thấy trong vụ án này có anh Nguyễn Văn B là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan còn lại theo quyết định đưa vụ án ra xét xử chỉ là những người làm chứng trong vụ án này, vì sau khi chiếm đoạt được tiền của bị hại, thực tế bị cáo N đã sử dụng 626.566.614 đồng để đánh bạc trên mạng, phần còn lại bị cáo dùng chi tiêu cho các nhu cầu, lợi ích cá nhân của chính bị cáo. Do vậy, theo quy định của pháp luật bị cáo N phải có trách nhiệm hoàn trả lại bị hại toàn bộ số tiền bị cáo chiếm đoạt, không liên quan đến trách nhiệm hoàn trả tiền của người khác.

[2] Về hành vi:

Lời khai của bị cáo N tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở xác định: Trong thời gian từ ngày 04/01/2024 đến ngày 21/01/2024 tại huyện N, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Thị N đã đưa thông tin gian dối trên mạng xã hội Facebook đối với anh Nguyễn Xuân T1 về việc anh T1 có thể mua giầy si tuyển với giá thấp làm cho anh T1 tin tưởng nên đã nhiều lần chuyển khoản cho N với tổng số tiền là 812.500.000đồng. Sau khi nhận được tiền, N sử dụng 626.566.614 đồng để đánh bạc trên mạng internet và dùng 185.933.386 đồng để chi tiêu cá nhân.

[3] Để có tiền chi tiêu cho bản thân, bị cáo N đã lợi dụng việc bị hại tin tưởng về việc N có giầy si tuyển bán để chiếm đoạt của anh T1 tổng số tiền là 812.500.000đồng, trong thực tế N không có giầy si tuyển để bán như đã nói với anh T1 nên hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thị N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Thị N về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ pháp luật, đúng người đúng tội.

[4] Hành vi của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đã đưa ra thông tin sai sự thật với bị hại chiếm đoạt tài sản (tiền) của anh T1. Bị cáo biết hành vi của bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do vụ lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy cần phải có mức án tương xứng, phù hợp dành cho bị cáo N mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và góp phần vào việc phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Về nhân thân: Bị cáo trước khi phạm tội chưa có vi phạm pháp luật gì.

[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N thực hiện nhiều lần chiếm đoạt tài sản (tiền) của bị hại, mỗi lần theo quy định đều cấu thành tội phạm nên bị áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến Cơ quan công an để đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt:

[6.1] Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo N đã thực hiện và hậu quả tội phạm bị cáo đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo N khỏi xã hội một thời gian phù hợp mới có tác dụng trừng trị, giáo dục để bị cáo sống biết chấp hành pháp luật.

[6.2] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo N bị xử phạt tù, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản và còn phải bồi thường bị hại số tiền lớn nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo N.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào lời khai của bị cáo N, bị hại, những người liên quan, cùng các tài liệu được xác minh trong hồ sơ vụ án và được hỏi làm rõ tại phiên tòa thì thấy rằng, sau khi nhận của anh T1 812.500.000đồng, bị cáo N sử dụng 626.566.614 đồng để đánh bạc và sử dụng 185.933.386 đồng để chi tiêu cho cá nhân, hiện chưa trả lại cho bị hại số tiền này. Nay anh T1 yêu cầu bị cáo N phải trả lại số tiền đã bị chiếm đoạt nên HĐXX thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của bị hại, buộc bị cáo N phải có trách nhiệm hoàn trả lại anh T1 812.500.000đồng.

[8] Về vật chứng:

[8.1] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax12; 149 đôi giầy nữ và 418 đôi giầy nam là tài sản của bị cáo, liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu, cho phát mại sung quỹ Nhà nước; Đối với chiếc sim điện thoại số 0936.737.xxx (kèm theo máy điện thoại Iphone 12 Promax12) là vật liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định cần tịch thu, cho hủy bỏ và kiến nghị Đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông thu hồi số sim điện thoại 0936.737.xxx theo quy định.

[8.2] Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu đen, lắp sim số 0985.971.202, hiện có căn cứ là tài sản của anh Nguyễn Văn B và anh B không biết việc bị cáo N dùng vào việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của anh B được nhận lại điện thoại và sim là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo N bị kết tội và phải bồi thường dân sự nên phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Về các nội dung khác:

[10.1] Về hành vi đánh bạc: N khai sau khi nhận được tiền của anh T1, N sử dụng để đánh bạc trên trang mạng V và đã chuyển tiền đến 07 tài khoản khác nhau theo yêu cầu của các đối tượng để mua điểm vào tài khoản đánh bạc trực tuyến. Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh H đã gửi văn bản đến các Ngân hàng (V2, M...) yêu cầu cung cấp thông tin, hồ sơ mở tài khoản của các tài khoản trên. Sau khi nhận được văn bản trả lời của các Ngân hàng, cơ quan CSĐT- Công an tỉnh H đã tiến hành xác minh để làm việc với các chủ tài khoản nhưng các chủ tài khoản đều vắng mặt tại địa phương, không biết đi đâu, làm gì, chưa ghi được lời khai. Đồng thời, căn cứ kết quả trả lời tại văn bản số 775 ngày 08/4/2024 của Cục P1, truyền hình và thông tin điện tử, Bộ T6 và văn bản số 937 ngày 29/3/2024 của Trung tâm I, Bộ T6 “về việc cung cấp thông tin về ứng dụng VipDeckMaster” nên ngày 05/11/2024, Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh H đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 1997/QĐ- CSHS (Đ2) để tiếp tục điều tra xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[10.2] Nguyễn Thị N đã bị Chủ tịch UBND huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 521 ngày 12/3/2024 về hành vi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ và không đăng ký thành lập hộ kinh doanh trong những trường hợp phải đăng ký theo quy định là phù hợp nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[10.3] Đối với anh Nguyễn Văn B có một số lần cùng N đi mua giầy để giao cho anh T1 nhưng không biết đó là thủ đoạn để N chiếm đoạt tiền của anh T1 nên anh B không đồng phạm với N về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc có dấu hiệu của tội phạm khác theo quy định của Bộ luật Hình sự. Đối với 12 người (gồm các anh/ chị: Lục Văn P, Nguyễn Quang B1, Nguyễn Văn T4, Phạm Văn T5, Đặng Văn Q, Nguyễn Duy B2, Lương Ngọc Á, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Phương T3, Nguyễn Thị K1, Lê Thị H2, Vũ Thị H) nhận tiền của N nhưng không biết số tiền trên do N chiếm đoạt của anh T1 nên không đồng phạm với N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hoặc có dấu hiệu tội phạm khác theo quy định của Bộ luật hình sự nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 38; Điều 48; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 584, 589 của Bộ luật Dân sự. khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  3. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 13 (mười ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24 tháng 01 năm 2024.
  4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  5. Về trách nhiệm dân sự, xử: Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải có trách nhiệm hoàn trả lại anh Nguyễn Xuân T1 là 812.500.000đồng (T trăm mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền nêu trên cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất do chậm thi hành được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  6. Về vật chứng, xử:
    1. Tịch thu, cho phát mại sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax12; 149 đôi giầy nữ và 418 đôi giầy nam.
    2. Tịch thu, cho hủy bỏ: 01 sim điện thoại số 0936.737.xxx (Sim kèm theo máy điện thoại Iphone 12 Promax12).
    3. Đề nghị Đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông thu hồi số sim điện thoại 0936.737.xxx theo quy định của pháp luật về viễn thông.
    4. Trả lại anh Nguyễn Văn B 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu đen, lắp sim số 0985.971.202.

      (Tình trạng, đặc điểm vật chứng nêu trên theo Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng lưu trong hồ sơ vụ án)

  7. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị N chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 36.375.000 đồng (Ba mươi sáu triệu ba trăm bẩy mươi năm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo N có quyền kháng cáo bản án, anh B có quyền kháng cáo phần phần quyền lợi liên quan trong bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Vụ GĐKT I- TANDTC;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Sở TP tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo; người bào chữa; Bị hại; Người có qlnv liên quan; Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger