Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 18 - 02 - 2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu và bà Nguyễn Thị Hường.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 03/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 13/01/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Thị Hồng V, sinh ngày 28/02/1988; nơi sinh: tại Thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đa N và bà Đổng Thị H; chung sống như vợ chồng với anh Lin Shi J (tên tiếng Việt: Lâm Thế K) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/01/2025, triệu tập có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lâm Thế K, sinh năm 1975, quốc tịch Trung Quốc, (vắng mặt do không triệu tập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã Yêu cầu tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả).
  2. Ông Phạm Đình Q, sinh năm 1960 (chủ cửa hàng Q1);
    Nơi cư trú: Số nhà D, đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
  3. Ông Nguyễn Văn T - chủ cửa hàng X;
    Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
  4. Anh Nguyễn Đức T1 – chủ cửa hàng X1;
    Nơi cư trú: Phố H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
  5. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 2000;
    Nơi cư trú: Xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình.
  6. Anh Phan Hữu Đ, sinh năm 2002;
    Nơi cư trú: thôn N, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
  7. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990 (chủ cửa hàng xe máy điện, xe đạp điện Tài Năng T3);
    Nơi cư trú: Tổ H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.

* Người làm chứng:

  1. Công ty trách nhiệm hữu hạn L1;
    Địa chỉ trụ sở: Số E, phố A, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội;
    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Huy C - Chức vụ: Giám đốc.
  2. Chị Vũ Thị Thanh L, sinh năm 1989; nơi cư trú: thôn B, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.
  3. Chị Bùi Thị H1, sinh năm 1991, nơi cư trú: xã X, huyện M, tỉnh Hưng Yên.
  4. Anh Vũ Thanh S, sinh năm 1989; nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng.
  5. Anh Tạ Thanh N2, sinh năm 1993; nơi cư trú: thôn P, xã B, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.
  6. Anh Tòng Văn U, sinh năm 1992; nơi cư trú: xã M, huyện S, tỉnh Sơn La.

Những người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn T4 (viết tắt là Công ty T4), địa chỉ: thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên thành lập tháng 7/2015 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0900921821 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh H cấp, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 11/3/2016. Người đại diện theo pháp luật là bị cáo Vũ Thị Hồng V, Giám đốc công ty. Công ty được phép kinh doanh các ngành nghề: Mua bán linh kiện xe đạp, xe máy điện; mua bán xe đạp, xe máy điện và lắp ráp sản phẩm xe đạp, xe máy (bao gồm cả xe máy điện và xe đạp điện). Cùng góp vốn, cùng điều hành công ty là anh Lin Shi J (gọi theo tên tiếng Việt là Lâm Thế K), quốc tịch Trung Quốc.

Anh Lâm Thế K còn được Cục S1 trí tuệ Bộ K1 cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 249414 ngày 20/8/2015 đối với phương tiện xe máy điện nhãn hiệu RAMDA. Năm 2015, anh Lâm Thế K ủy quyền cho Công ty trách nhiệm hữu hạn L1 (viết tắt là Công ty L1) do ông Nguyễn Huy C - Giám đốc, sản xuất, lắp ráp sản phẩm xe máy điện nhãn hiệu RAMDA. Ngày 02/01/2016, Công ty T4 ký hợp đồng bán linh kiện xe máy, xe máy điện và mua lại các thương hiệu xe máy, xe máy điện của Công ty L1 để bán ra thị trường. Xe máy điện nhãn hiệu RAMDA do Công ty L1 lắp ráp và được Cục Đ1 cấp Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng xe cơ giới. Phiếu này do ông Nguyễn Huy C, Giám đốc công ty ký đóng dấu.

Cuối năm 2016, Công ty L1 không lắp ráp, sản xuất xe máy điện nữa, vì vậy ngày 01/4/2017, Lâm Thế K ủy quyền cho Công ty T4 tự sản xuất, lắp ráp xe máy điện hiệu RAMDA. Công ty T4 tiến hành sản xuất khung xe, lắp ráp theo mẫu mã, kiểu dáng được Cục đăng kiểm cấp phép còn các linh kiện khác thì công ty nhập từ các công ty khác. Sau khi lắp ráp hoàn thiện xe, đóng số khung, số động cơ xong, Công ty T4 báo cáo Cục đăng kiểm để kiểm tra và báo cáo xin cấp Giấy chứng nhận chất lượng, kiểu loại, gồm: Đặc điểm xe, thông tin số khung, số động cơ. Ngày 15/6/2017, Công ty T4 được Cục Đ1 cấp 200 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng và đang làm thủ tục đề nghị cấp tiếp 200 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng cho xe đang lắp ráp. Số xe máy điện này Công ty T4 đã xuất bán ra thị trường tỉnh Thái Bình và nhiều tỉnh thành lân cận có kèm theo Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng.

Tuy nhiên, việc kiểm tra và cấp Phiếu kiểm tra chất lượng của Cục Đ1 thông qua nhiều quy trình, thủ tục, thời gian dài. Khoảng tháng 5/2017, có người đàn ông đến công ty T4 chào bán Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng xe máy điện với giá 200.000 đồng/phiếu, mặc dù không biết biết tên, tuổi, địa chỉ nhưng Lâm Thế K vẫn mua các Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng của người này với số tiền khoảng 120.000.000 đồng, trên các Phiếu đã in sẵn nội dung thông tin gồm: tên sản phẩm nhãn hiệu xe máy điện RAMDA, số khung, số động cơ, màu sơn do Công ty TNHH L1 sản xuất, lắp ráp, phần ký tên và đóng dấu ông Nguyễn Huy C. Sau đó anh Lâm Thế K chuyển cho bị cáo V để bị cáo V chỉ đạo công nhân đóng số khung, số động cơ phù hợp với thông tin trên phiếu để hợp pháp hóa các xe máy điện của Công ty T4 tự sản xuất, lắp ráp. Bị cáo V biết các Phiếu kiểm tra chất lượng mà Lâm Thế K đưa không phải của Cục Đ1 cấp cho Công ty T4 nhưng vẫn chỉ đạo công nhân đóng số khung, số động cơ lên các xe máy điện phù hợp với thông tin ghi trên các Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng do anh Lâm Thế K đưa để hợp pháp hóa hàng hóa bán ra thị trường. Tổng số xe Công ty T4 tự sản xuất, lắp ráp có số khung, số động cơ đóng theo số khung, số động cơ trên Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng giả sản phẩm RAMDA của Công ty L1 sản xuất, lắp ráp là 103 xe. Sau đó, Công ty T4 xuất bán cho các cửa hàng bán xe máy điện trên thị trường. Khi bán xe kèm theo hóa đơn bán hàng (hóa đơn GTGT) và Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng để khách hàng thực hiện việc đăng ký xe.

Tại tỉnh Thái Bình Cơ quan điều tra đã thu giữ 43 xe máy điện RAMDA và 43 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng giả sản phẩm RAMDA của Công ty L1 sản xuất, gồm: Cửa hàng Q1, địa chỉ số D, đường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình, địa chỉ: Số nhà F, phố B, tổ A, phường T, thành phố T làm chủ hộ là 17 xe và 16 Phiếu; Cửa hàng X, địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Bình là 4 xe và 4 Phiếu; Cửa hàng xe máy điện, xe đạp điện Tài Năng T3, địa chỉ: Tổ H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình là 6 xe và 6 Phiếu; Cửa hàng Thế Giới Trẻ, địa chỉ phố H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình là 15 xe và 15 Phiếu; Công an huyện K giao nộp 1 Phiếu và Công an huyện H giao nộp 1 xe và 1 Phiếu đều do thu của công dân. Tiến hành khám xét Công ty T4 thu 3 xe máy điện RAMDA và 103 Phiếu.

Tổng số thu được 46 xe và 146 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới thể hiện sản phẩm xe máy điện RAMDA mang tên Công ty trách nhiệm hữu hạn L1 sản xuất lắp ráp là giả, trong đó số Phiếu kiểm tra chất lượng giả Vũ Thị Hồng V sử dụng cấp cho người mua xe máy điện RAMDA tại tỉnh Thái Bình là 43 phiếu của 43 xe máy điện RAMDA.

- Kết luận giám định số 14, 18, 19, 20, 21, 22, 23/KLGĐ-PC54 ngày 07/8/2017; số 24, 25, 26 ngày 8/8/2017; số 30, 31, 32 ngày 15/8/2017; số 135 ngày 18/8/2017 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới gửi giám định là giả (bút lục số 394; từ số 413 đến số D; từ số 460 đến số D; từ số 471 đến số 476; số 495);

- Kết luận giám định số 44/KLGĐ-PC54 ngày 08/8/2017 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận: “8 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới ký hiệu từ A1 đến A8 là giả” (bút lụ số 74, 75);

- Kết luận giám định số 48/KLGĐ-PC54 ngày 15/9/2017 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận:

“1. 122 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới ký hiệu từ A1 đến A123 (trừ 103) là giả.

2. Mẫu in Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới ký hiệu A103 là thật.

3. Hình dấu tròn có nội dung “CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN LIÊN DOANH MÔ TÔ VIỆT” trên 118 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới ký hiệu từ A1 đến A123 (trừ A22, A34, A74, A75, A103) so với hình dấu mẫu có cùng nội dung trên tài liệu ký hiệu M2 không phải do cùng một con dấu đóng ra.

4. Hình dấu tròn có nội dung “CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN LIÊN DOANH MÔ TÔ VIỆT” trên Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới ký hiệu A103 so với hình dấu mẫu có cùng nội dung trên tài liệu ký hiệu M2 do cùng một con dấu đóng ra.

5. Hình dấu chức danh, họ tên “GIÁM ĐỐC Nguyễn Huy C” trên 118 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới ký hiệu từ A1 đến A123 (trừ A22, A34, A74, A75, A103) so với hình dấu mẫu có cùng nội dung trên tài liệu ký hiệu M3 không phải do cùng một con dấu đóng ra.

6. Hình dấu chức danh, họ tên “GIÁM ĐỐC Nguyễn Huy C” trên Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới ký hiệu A103 so với hình dấu mẫu có cùng nội dung trên tài liệu ký hiệu M3 do cùng một con dấu đóng ra.

7. Chữ ký mang tên Giám đốc Nguyễn Huy C trên 118 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới ký hiệu từ A1 đến A123 (trừ A22, A34, A74, A75, A103) so với chữ ký của Giám đốc Nguyễn Huy C trên tài liệu ký hiệu M4 không phải do cùng một người ký ra.

8. Chữ ký mang tên Giám đốc Nguyễn Huy C trên Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới ký hiệu A103 so với chữ ký của Giám đốc Nguyễn Huy C trên tài liệu ký hiệu M4 do cùng một người ký ra.”.

Bản cáo trạng số: 08/CT - VKSTPTB ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, truy tố bị cáo Vũ Thị Hồng V về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Kiểm sát viên luận tội: Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án và giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, không có chứng cứ xác định vô tội, xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở đó giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Hồng V về “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Vũ Thị Hồng V 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm thời hạn tính từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo V đã khắc phục xong hậu quả nên không đặt ra giải quyết.
  4. Về vật chứng: Đề nghị hóa giá 46 xe máy điện đã cũ để nộp ngân sách nhà nước.
  5. Về án phí: Bị cáo V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Vũ Thị Hồng V xác định bị cáo có hành vi sử dụng giấy tờ giả là các Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng nên cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên bị cáo không trình bày lời bào chữa, không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên và Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và đó là các tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên bị cáo không khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng.

[2] Căn cứ kết tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Các Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới; Biên bản khám xét; các Kết luận giám định về: Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới; Công văn của Cục Đ1 cung cấp quy trình kiểm tra, cấp Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới, xe máy điện đối với Công ty T4; các Biên bản xác minh; các lời khai của những người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Từ tháng 5/2017 đến tháng 8/2017, bị cáo Vũ Thị Hồng V là Giám đốc Công ty TNHH T4 biết Cục Đ1 là đơn vị duy nhất thực hiện quy trình kiểm tra và cấp Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng xe máy điện nhãn hiệu RAMDA cho Công ty T4 nhưng bị cáo Vũ Thị Hồng V không thực hiện đúng quy trình mà đã sử dụng “Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới” giả in sẵn thông tin sản phẩm xe máy điện RAMDA do Công ty TNHH L1 sản xuất chỉ đạo công nhân đóng số khung, số máy phù hợp với các thông tin trên phiếu để hợp thức hóa 46 xe máy điện do Công ty T4 sản xuất, lắp ráp, đã xuất bán 43 xe cho khách hàng ở địa bàn tỉnh Thái Bình kèm theo 43 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng giả. Xét, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, lẽ ra bị cáo phải nhận thức rõ hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để trục lợi là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Xét, hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999. Điều 267 - Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức: “1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm: a) ...; b) Phạm tội nhiều lần; ...”. So sánh Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” tại Điều 267 và Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” tại Điều 341 thì thấy quy định tại Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999 có lợi hơn so với quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, để có lợi cho người phạm tội nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999 để khởi tố, truy tố, xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Thị Hồng V là phù hợp. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Theo đó bị cáo phải chịu mức hình phạt theo tội danh đã phạm.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn bình thường của các cơ quan nhà nước, tổ chức trong hoạt động quản lý hành chính. Xét nguyên nhân và điều kiện thực hiện hành vi phạm tội là nhằm mục đích tư lợi nên bị cáo đã không tuân thủ pháp luật, vì vậy cần xét xử bị cáo nghiêm minh.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã đổi lại 43 xe máy điện hợp chuẩn của Công ty T4 cho các chủ cửa hàng và các chủ cửa hàng đã đổi lại đủ cho các khách hàng, bị cáo có bố đẻ được Bộ Q2 tặng danh hiệu Chiến sĩ quyết thắng, nên khi lượng hình bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, việc không buộc bị cáo cách ly ra ngoài xã hội sẽ không gây nguy hiểm cho xã hội nên cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét, Công ty T4 không còn hoạt động, bị cáo V hiện tại lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo V đã khắc phục hậu quả bằng việc thực hiện đổi phương tiện xe máy điện được sản xuất hợp chuẩn của Công ty T4 cho toàn bộ cho các cửa hàng trên địa bàn tỉnh Thái Bình mua xe máy điện của Công ty T4, các chủ cửa hàng không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không phải giải quyết về trách nhiệm dân sự tại bản án này.

[8] Về vật chứng và tài liệu:

[8.1] Đối với 46 xe máy điện nhãn hiệu RAMDA (trong đó thu của Công ty T4 03 chiếc, thu của khách hàng trên địa bàn tỉnh Thái Bình 43 chiếc). Xét, là xe không hợp chuẩn, hiện tại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước.

[8.2] Đối với 43 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng, thu giữ được từ các khách hàng. Kết quả giám định kết luận là các Phiếu giả. Đây là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần lưu theo hồ sơ vụ án.

[8.3] Đối với 103 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng thu giữ khi khám xét tại Công ty T4, thể hiện sản phẩm xe máy điện RAMDA mang tên Công ty L1 sản xuất lắp ráp, kết quả giám định là giả. Xét thấy số phiếu này do Lâm Thế K mua về chưa sử dụng và Vũ Thị Hồng V không biết, vì vậy cần giao lại cho Cơ quan điều tra để tiếp tục điều tra, làm rõ khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

[9] Về các nội dung khác:

[9.1] Quá trình điều tra còn xác định Công ty T4 còn bán xe máy điện cho khách hàng ở các tỉnh, thành khác. Cơ quan điều tra Công an tỉnh T đã uỷ thác điều tra, song, đến nay kết quả ủy thác điều tra chưa đầy đủ thông tin để xác định việc sử dụng Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng giả nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau khi có đủ căn cứ.

[9.2] Đối với 185 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng do bị cáo Vũ Thị Hồng V giao nộp (trên phiếu thể hiện sản phẩm của Công ty V1 là 150 Phiếu, Công ty L1 là 20 Phiếu, Công ty S2 là 12 Phiếu, Công ty D là 3 Phiếu). Các phiếu này đã được Cơ quan điều tra trưng cầu giám định kết quả là phiếu thật do Cục Đ1 phát hành. Xét, bị cáo V chưa sử dụng số Phiếu này vào mục đích xuất bán xe máy điện ra thị trường hoặc sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm nào khác nên không có căn cứ xử lý bị cáo V đối với 185 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng này.

[9.3] Đối với các anh, chị: Vũ Thị Thanh L, Bùi Thị H1, Vũ Thanh S, Tạ Thanh N2, Tòng Văn U đều là nhân viên, công nhân của Công ty T4, thực hiện nhiệm vụ theo sự chỉ đạo của Giám đốc công ty. Các anh, chị này không biết thời điểm năm 2017 bị cáo V chỉ đạo đóng số khung, số động cơ trên xe máy điện là số khung, số động cơ in trên các Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng giả nên cơ quan điều tra không có hình thức xử lý.

[9.4] Đối với các chủ cửa hàng mua xe máy điện RAMDA của Công ty T4 để bán cho khách hàng, khi mua đều xuất hóa đơn giá trị gia tăng, họ không biết các Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng kèm theo xe là giả nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

[10] Đối với nguồn gốc các Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng giả và đối với anh Lin Shi J (Lâm Thế K): Kết quả điều tra xác định anh Lâm Thế K là người trực tiếp mua các Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng dùng cho xe cơ giới in sẵn thông tin sản phẩm xe máy điện RAMDA mang tên của Công ty TNHH L1 mua của một người không biết tên, tuổi, địa chỉ. Anh Lâm Thế K đã xuất cảnh ra khỏi lãnh thổ Việt Nam từ ngày 12/12/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại Việt Nam. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã gửi Yêu cầu tương trợ tư pháp đề nghị xác minh các nội dung liên quan đến vụ án nhưng đến nay chưa có kết quả, Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

[11] Về án phí: Bị cáo Vũ Thị Hồng V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Hồng V phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức".
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Áp dụng Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
    Xử phạt bị cáo Vũ Thị Hồng V 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 (năm) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/02/2025. Giao bị cáo Vũ Thị Hồng V cho UBND xã T, huyện T, Thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
    “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hành phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự”.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết.
  4. Về vật chứng và tài liệu:
    • [4.1] Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 46 xe máy điện nhãn hiệu RAMDA.
    • [4.2] Lưu theo hồ sơ vụ án: 43 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng đã được giám định kết quả là các phiếu giả; 185 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng trong đó: 150 Phiếu thể hiện sản phẩm của Công ty V1, 20 Phiếu thể hiện sản phẩm của Công ty L1, 12 Phiếu thể hiện sản phẩm của Công ty S2, 3 Phiếu thể hiện sản phẩm của Công ty D, các phiếu này đã được đã được giám định kết luận là các phiếu thật.
    • [4.3] Giao lại cho Cơ quan điều tra 103 Phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng mang tên Công ty trách nhiệm hữu hạn L1, đã được giám định kết luận là các Phiếu giả để tiếp tục điều tra, làm rõ.
  5. Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Thị Hồng V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Quyền kháng cáo: Án tuyên công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/02/2025. Vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có 15 người kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan điều tra tỉnh Thái Bình;
  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự: làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Hồng V phạm tội “Tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger