Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17-02-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

và chia tài sản chung khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Tài.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/. Ông Đào Khel .
  • 2/. Ông Nguyễn Phước .

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như Ý, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện viện kiểm sát nhân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 17/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 127/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 660/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Kim G, sinh năm 1990 (có mặt).

Địa chỉ: Số A, đường S, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Ông Phan Minh T, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: Số A, đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Địa chỉ: Số C, đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/6/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà nguyên đơn bà Trần Kim G trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Kim G và ông Phan Minh T là vợ chồng, tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng ngày 19-11-2012. Sau khi kết hôn, đến năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong tính cách, quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên tranh cải làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ năm 2022 đến nay, bà G và ông T không còn sống chung như vợ chồng.
  • - Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà Trần Kim G và ông Phan Minh T có một con chung tên là Phan Kim N (nữ), sinh ngày 16-8-2012, hiện cháu N đang sống cùng bà G.
  • - Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Trần Kim G và ông Phan Minh T có tài sản chung gồm:
  • - Thửa đất số 340, tờ bản đồ số 44, tại Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; diện tích: 158,8 m², số sổ AN238897 do UBND thành phố S cấp ngày 14/01/2009 (nguồn gốc thửa đất này của bà Nguyễn Thị Thúy K và vợ chồng tôi đã chuyển nhượng ngày 22/11/2019). Cùng năm 2019, vợ chồng tôi đã xây dựng 01 căn nhà cấp 04 trên đó; tổng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ước tính khoảng: 1.000.000.000 đ (Một tỉ đồng). Tôi yêu cầu chia đôi mỗi người 50%, tôi yêu cầu được nhận giá trị tạm tính tới ngày khởi kiện là 500.000.000 đồng.
  • - Thửa đất số 856, tờ bản đồ số 09, tại ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; với diện tích: 115,0 m², số số AD569180 do UBND huyện M cấp ngày 28/12/2005 (nguồn gốc thửa đất này của vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Mỹ L được bà G và ông T nhận chuyển nhượng bằng giấy tay ngày 15/11/2019; đến nay vẫn chưa làm hợp đồng chuyển nhượng để sang tên và làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
  • - Ngày 23/06/2021, bà G và ông T có mua thêm 01 phần đất tại Khóm G, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; với diện tích: 06m x 36m từ ông Nguyễn Thanh C sinh năm 1977, cư ngụ tại xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
  • - Về nợ chung: Không có.

Nay bà Trần Kim G yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Phan Minh T.
  • - Về con chung: Sau khi ly hôn, bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phan Kim N (nữ), sinh ngày 16-8-2012. Yêu cầu ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.205.000 đồng cho đến khi cháu N tròn 18 tuổi.
  • - Về tài sản chung: Yêu cầu chia đôi căn nhà gắn liền với phần đất tại thửa đất số 340, tờ bản đồ số 44, diện tích thực tế khi đo đạt là 149,7m², tọa lạc số 305/13/15, đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCNQSD Đất: H 5840 được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 14/01/2009 cho bà Nguyễn Thị Thúy K, đến ngày 22/11/2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S chỉnh lý biến động sang tên ông Phan Minh T và bà Trần Kim G. Bà G yêu cầu được nhận 50% giá trị tài sản bằng tiền.

Đối với tài sản chung là: Thửa đất số 856, tờ bản đồ số 09, tại ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng và 01 phần đất tại Khóm G, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thì nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  • - Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Phan Minh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham gia phiên Tòa, nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do.

* Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng thì trước và tại phiên tòa hôm nay chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tại phiên tòa. Đối với bị đơn ông Phan Minh T đã không chấp hành việc có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung, Vị đại diện Viện kiểm sát nêu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của bị đơn ông Phan Minh T, xét thấy: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng vắng mặt

không lý do đến lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn với ông Phan Minh T. Thấy rằng: Bà Trần Kim G và ông Phan Minh T là vợ chồng, tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng ngày 19-11-2012. Nên hôn nhân giữa bà G và ông T là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình và quan điểm sống không phù hợp làm cho đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Từ năm 2022 đến nay, bà G và ông T không còn sống chung như vợ chồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông T đến làm việc và hòa giải nhưng ông không đến cũng như không có văn bản trình bày ý kiến, chứng tỏ ông không có thiện chí muốn hòa giải mâu thuẫn giữa hai vợ chồng để quay về đoàn tụ. Xét thấy, những mâu thuẫn trên thể hiện được tình trạng hôn nhân của bà G và ông T đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được. Từ năm 2022 đến nay, ông bà không còn sống chung với nhau như vợ chồng, thể hiện được cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, ông bà không còn thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc làm cho mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà G.

[3] Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con sau khi ly hôn của nguyên đơn. Thấy rằng, cháu Phan Kim N (nữ), sinh ngày 16-8-2012, hiện nay đang sinh sống ổn định với bà G. Bà Giàu có công việc ổn định và thời gian chăm sóc, giáo dục con cái. Đồng thời, cháu Phan Kim N có nguyện vọng được sống cùng bà G. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu nuôi con sau khi ly hôn của bà G.

Về việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn, thấy rằng việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Cháu Phan Kim N, hiện nay đang sinh sống cùng bà G, nên bà G yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ chấp nhận. Về mức cấp dưỡng mà bà G yêu cầu không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con nên có căn cứ chấp nhận.

Hồi đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 82, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà G về việc yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, ông Phan Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Phan Kim N mỗi tháng 2.205.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 02 năm 2025 cho đến khi cháu N tròn 18 tuổi.

Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi” và khoản 3 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Do đó, sau khi ly hôn, ông Phan Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung là cháu Phan Kim N không ai được cản trở.

[4] Xét yêu cầu chia tài sản chung là căn nhà gắn liền với phần đất tại thửa đất số 340, tờ bản đồ số 44, diện tích thực tế khi đo đạt là 149,7m², tọa lạc số 305/13/15, đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCNQSD Đất: H 5840 được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 14/01/2009 cho bà Nguyễn Thị Thúy K, đến ngày 22/11/2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S chỉnh lý biến động sang tên ông Phan Minh T và bà Trần Kim G.

Trong quá trình giải quyết vụ án, để chứng minh cho yêu cầu của mình, nguyên đơn cung cấp cho Tòa án hồ sơ sao chụp theo hồ sơ lưu tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, thể hiện căn nhà gắn liền với phần đất tại thửa đất số 340, tờ bản đồ số 44, diện tích thực tế khi đo đạt là 149,7m², tọa lạc số 305/13/15, đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCNQSD Đất: H 5840 được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 14/01/2009 cho bà Nguyễn Thị Thúy K, đến ngày 22/11/2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S chỉnh lý biến động sang tên ông Phan Minh T và bà Trần Kim G. Đồng thời, bà G cũng xác định đây là tài sản chung của bà và ông T trong thời kỳ hôn nhân, bị đơn ông T cũng không có ý kiến phản đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Hội đồng xét xử căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình xác định tài sản trên là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà G chia theo tỷ lệ 50:50 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Cụ thể, bà G và ông T mỗi người được hưởng 50% giá trị tài sản chung tương ứng số tiền 1.597.000.000 đồng : 2 = 798.500.000 đồng.

[5] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc giao căn nhà gắn liền với phần đất cho ông Phan Minh T quản lý, sử dung và yêu cầu ông T thối lại 50% giá trị tương ứng số tiền 798.500.000 đồng. Thấy rằng: Sau khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thì bà G chuyển về sinh sống cùng gia đình tại số A, đường S, phường V, thành phố R, tỉnh Kiêng Giang. Ông T là người trực tiếp quản lý, sử dụng căn nhà tọa lạc

số 305/13/15, đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của bà G.

Sau khi ly hôn, ông Phan Minh T được trực tiếp quản lý, sử dụng căn nhà gắn liền với phần đất tại thửa đất số 340, tờ bản đồ số 44, diện tích thực tế khi đo đạt là 149,7m², tọa lạc số 305/13/15, đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCNQSD Đất: H 5840 được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 14/01/2009 cho bà Nguyễn Thị Thúy K, đến ngày 22/11/2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S chỉnh lý biến động sang tên ông Phan Minh T và bà Trần Kim G. Cụ thể như sau: Phần đất có vị trí số đo tứ cận và diện tích: Hướng Bắc giáp hẻm có số đo: 8,02m; Hướng Nam giáp hẻm có số đo: 13,58m; Hướng Tây giáp thửa 308 có số đo: 17,05m; Hướng Đông giáp hẻm có số đo: 4,63m + 4,25m + 2,88m + 7,42m. Diện tích: 149,7m² (loại đất: CLN), tọa lạc số 305/13/15, đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Tài sản gắn liền trên đất gồm căn nhà trệt có diện tích 52,9m², kết cấu: nền lát gạch men vách tường gạch (có ốp gạch men cao 1,5m), khung bê tông cốt thép, trần la phong nhựa, mái lợp tôn. Mái che phía trước có diện tích 14,6m², kết cấu: khung cột sắt, lợp tôn. Mái che phía sau có diện tích 53,5m², kết cấu: khung cột sắt, lợp tôn. Hàng rào phía trước, bên hông và phía sau: chiều dài 38,15m, chiều cao 2,9m, kết cấu: khung cột sắt, vách tường gạch cao 1,9m + khung sắt lưới B40 cao 1,0m. Cửa rào trước sắt hộp.

Ông Phan Minh T có nghĩa vụ trả cho bà Trần Kim G 50% giá trị tài sản chung tương ứng số tiền 798.500.000 đồng.

[6] Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày là không có, không yêu cầu. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn bà Trần Kim G phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng; Chịu án phí số tiền chia tài sản chung là 35.940.000 đồng. Bị đơn ông Phan Minh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con số tiền 300.000 đồng; C1 án phí số tiền chia tài sản chung là 35.940.000 đồng.

[9] Về chi phí tố tụng: Gồm chi phí định giá và thẩm định tài sản.

Nguyên đơn bà Trần Kim G phải chịu chi phí tố tụng số tiền 10.375.000 đồng. Bị đơn ông Phan Minh T phải chịu chi phí tố tụng số tiền 10.375.000 đồng.

Do bà G đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng nên ông T có trách nhiệm trả lại cho bà G số tiền 10.375.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 157, Điều 165, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ: Các Điều 33, 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ: Khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Kim G được ly hôn với ông Phan Minh T.

2. Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Trần Kim G được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phan Kim N (nữ), sinh ngày 16-8-2012.

Ông Phan Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Phan Kim N mỗi tháng 2.205.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 02 năm 2025 cho đến khi cháu N tròn 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, ông Phan Minh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung là cháu Phan Kim N không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung:

- Giao cho ông Phan Minh T được toàn quyền sử dụng phần đất tại thửa đất số 340, tờ bản đồ số 44, diện tích thực tế khi đo đạt là 149,7m², tọa lạc số 305/13/15, đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCNQSD Đất: H 5840 được Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 14/01/2009 cho bà Nguyễn Thị Thúy K, đến ngày 22/11/2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S chỉnh lý biến động sang tên ông Phan Minh T và bà Trần Kim G. Cụ thể như sau: Phần đất có vị trí số đo tứ cận và diện tích: Hướng Bắc giáp hẻm có số đo: 8,02m; Hướng Nam giáp hẻm có số đo: 13,58m; Hướng Tây giáp thửa 308 có số đo: 17,05m; Hướng Đông giáp hẻm có số đo: 4,63m + 4,25m + 2,88m + 7,42m. Diện tích: 149,7m² (loại đất: CLN). Ông Phan Minh T được quyền sở hữu các tài sản gắn liền trên thửa đất gồm: Căn nhà trệt có diện tích 52,9m², kết cấu: nền lát gạch men vách tường gạch (có ốp gạch men cao 1,5m), khung bê tông cốt thép, trần la phong

nhựa, mái lợp tôn. Mái che phía trước có diện tích 14,6m², kết cấu: khung cột sắt, lợp tôn. Mái che phía sau có diện tích 53,5m², kết cấu: khung cột sắt, lợp tôn. Hàng rào phía trước, bên hông và phía sau: chiều dài 38,15m, chiều cao 2,9m, kết cấu: khung cột sắt, vách tường gạch cao 1,9m + khung sắt lưới B40 cao 1,0m. Cửa rào trước sắt hộp.

Ông Phan Minh T có nghĩa vụ trả cho bà Trần Kim G 50% giá trị tài sản chung tương ứng số tiền 798.500.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Nguyên đơn bà Trần Kim G phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng; Chịu án phí số tiền chia tài sản chung là 35.940.000 đồng. Tổng cộng là 36.240.000 đồng. Sau khi cấn trừ số tiền tạm ứng án phí bà G đã nộp là 12.006.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001838 ngày 14/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, bà G phải nộp thêm số tiền án phí là 24.234.000 đồng.
  • - Bị đơn ông Phan Minh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con số tiền 300.000 đồng; C1 án phí số tiền chia tài sản chung là 35.940.000 đồng. Tổng cộng là 36.240.000 đồng.

6. Về chi phí tố tụng:

  • - Nguyên đơn bà Trần Kim G phải chịu chi phí tố tụng số tiền 10.375.000 đồng. Bà G đã nộp xong.
  • - Bị đơn ông Phan Minh T phải chịu chi phí tố tụng số tiền 10.375.000 đồng. Do bà G đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng nên ông T có trách nhiệm trả lại cho bà G số tiền 10.375.000 đồng.

7. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,

7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSNDTP Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS TPST;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - UBND phường 2, TPST;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Phước Tài

Đã ký

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn

  • Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con và chia tài sản chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA Gi - T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger