TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc —————————————— |
Bản án số: 12/2025/HS-ST
Ngày 17/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Việt Thanh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Đình Phương - Bà Phạm Thị Ngọc Nga
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Linh Chi – Thư ký viên chính Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 162/2024/HS-ST, ngày 20/12/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 03/02/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thùy N, sinh năm 1970, tại Ninh Bình; nơi cư trú: số nhà E,, đường B, phố T, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Kế toán; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Là Đảng viên Đ sinh hoạt tại Chi bộ phố T, Đảng bộ phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo quyết định số 111-QĐ/UBKT ngày 15/04/2024 của Uỷ ban kiểm tra thành uỷ Ninh Bình. Con ông: Nguyễn Xuân Q và con bà: Vũ Thị T (đã chết). Chồng: Nguyễn Mạnh Q1; con: 02 con. Con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự: chưa có.
Nhân thân: tại bản án số 25/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình đã xử phạt bị cáo Nguyễn Thùy N số tiền 160.000.000 đồng về tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 200 BLHS.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Ông Phạm Văn H, sinh năm: 1968
Địa chỉ: xóm A, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt
Ông Nguyễn Mạnh Q1, sinh năm: 1963
Địa chỉ: số nhà E, đường B, phố T, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thùy N, sinh năm 1970, trú tại số nhà E, đường B, phố T, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình là kế toán của công ty TNHH C1 (gọi tắt là Công ty C1), địa chỉ trụ sở tại xóm A, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình do anh Phạm Văn H sinh năm 1968 trú tại xóm A, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình là Giám đốc. Cuối năm 2018, anh H thuê Nguyễn Thùy N làm kế toán thời vụ cho Công ty C1 với mức lương 5.000.000 đồng/ 01 tháng, không có hợp đồng lao động. Quá trình làm việc tại Công ty C1, thấy công ty không có hóa đơn đầu vào mà vẫn phải nộp đầy đủ nghĩa vụ thuế thì sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận nên Nguyễn Thùy N đã nói chuyện với anh H. Sau đó anh H có đặt vấn đề với Nguyễn Thùy N có cách nào giúp công ty giảm số tiền thuế giá trị gia tăng (GTGT) phải nộp không. Lúc này Nguyễn Thùy N cũng đang làm kế toán của Công ty TNHH M, địa chỉ trụ sở tại số nhà E, đường B, phố T, phường N, thành phố N, mã số thuế 2700603712 do anh Nguyễn Mạnh Q1 (là chồng của N) làm Giám đốc. Do Nguyễn Thùy N biết Công ty M đang thừa hoá đơn GTGT đầu ra vì có nhiều khách hàng không lấy hoá đơn, Nguyễn Thùy N nói với anh H sẽ lấy hoá đơn GTGT của Công ty M xuất khống và bán cho anh H với giá 1.000.000 đồng/ 01 hóa đơn để anh H hạch toán kê khai đầu vào, làm giảm tiền thuế Công ty C1 phải nộp cho Nhà nước thì anh H đồng ý.
Trong quá trình hoạt động của Công ty M, anh Q1 thường xuyên tự mình lái xe phục vụ công việc chở hàng, ít khi có mặt tại công ty nên anh Q1 đã giao nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động, kế toán, quản lý con dấu, hoá đơn của công ty cho N. Lợi dụng công việc được giao, trong các năm 2019, 2020 và 2021, Nguyễn Thùy N đã có hành vi lấy 16 hoá đơn GTGT của Công ty M và ghi khống nội dung các dịch vụ thuê xe vận tải, vận chuyển (thực tế không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo) để bán cho anh H. Tổng giá trị hàng hoá trước thuế ghi trên 16 hoá đơn GTGT là 3.617.233.637 đồng, tổng thuế GTGT là 361.723.363 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Thùy N đã thu lợi bất chính từ việc bán trái phép 16 hoá đơn GTGT cho anh H là 16.000.000 đồng. Nguyễn Thùy N không nói cho anh Q1 biết việc này.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Thùy N số tiền 16.000.000 đồng, 01 con dấu tròn có nội dung “Công ty trách nhiệm hữu hạn M – TP . - T. N – MSDN: 2700.603.712 – CTTNHH”; 01 con dấu chức danh mang tên “Nguyễn Mạnh Q1” và 16 hóa đơn GTGT (liên 1, liên 3).
Ngày 28/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N (nay là thành phố H) đã ra Quyết định trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký, hình dấu trên 16 hoá đơn mà Nguyễn Thùy N đã bán cho anh Phạm Văn H. Tại bản Kết luận giám định số 713/KL-KTHS-TL ngày 26/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- Hình dấu tròn có nội dung “Công ty trách nhiệm hữu hạn M – TP . - T. N – MSDN: 2700.603.712 – CTTNHH” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A17 đến A32 so với hình dấu tròn có cùng nội dung tại các mục được mô tả trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2; từ M21 đến M23 là do cùng một con dấu đóng ra.
- Dấu tên và chức danh mang tên Nguyễn Mạnh Q1 dưới mục “Thủ trưởng đơn vị” trên tài liệu cần giám định ký hiệu từ A17 đến A32 so với dấu tên và chức danh của ông Nguyễn Mạnh Q1 tại các mục được mô tả trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2; từ M15 đến M18; từ M21 đến M23 là do cùng một con dấu đóng ra.
- Chữ ký mang tên Giám đốc Nguyễn Mạnh Q1 dưới mục “Thủ trưởng đơn vị” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A17 đến A32 so với chữ ký của ông Nguyễn Mạnh Q1 tại các mục được mô tả trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2; từ M12 đến M23 là chữ do cùng một người ký ra.
- Chữ viết phần nội dung trên các tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A16; chữ viết, chữ ký mang tên Mạch Thị H1 dưới mục “Người bán hàng” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A3, A4; chữ viết, chữ ký mang tên Cù Thị Kim C dưới mục “Người bán hàng” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A5; chữ viết, chữ ký mang tên Vũ Phương T1 dưới mục “Người bán hàng” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A22; chữ viết, chữ ký mang tên Ng Thị H2 dưới mục “Người bán hàng” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A24, A25 so với chữ viết, chữ ký của bà Nguyễn Thùy N tại các mục được mô tả trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M3 đến M5 là chữ do cùng một người viết, ký ra”.
Tại bản Cáo trạng số 168/CT-VKS ngày 19/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thùy N về tội “Mua bán trái phép hoá đơn ” theo khoản 1, khoản 3 Điều 203 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thùy N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng viện kiểm sát truy tố là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, không thay đổi, bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thùy N phạm tội “Mua bán trái phép hoá đơn”. Áp dụng khoản 1 Điều 203, các điểm i,s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 BLHS.
Xử phạt:bị cáo Nguyễn Thùy N từ 80.000.000đ đến 90.000.000đ để sung ngân sách nhà nước.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 BLHS, điều 106 BLTTHS: Đối với số tiền thu lời bất chính 16.000.000đ bị cáo đã tự nguyện nộp lại, tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Trả lại cho công ty M (do ông Nguyễn Mạnh Q1 là người đại diện theo pháp luật): 01 con dấu tròn có nội dung “Công ty trách nhiệm hữu hạn M – TP . - T. N – MSDN: 2700.603.712 – CTTNHH”; 01 con dấu chức danh mang tên “Nguyễn Mạnh Q1".
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thùy N không có ý kiến gì với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư; đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thùy N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận: Trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2021, bị cáo Nguyễn Thùy N đã có hành vi bán 16 hoá đơn GTGT đã ghi khống nội dung (thực tế không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo) của Công ty TNHH M để bán cho anh Phạm Văn H với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ trước thuế ghi trên 16 hoá đơn là 3.617.233.637 (Ba tỷ, sáu trăm mười bảy triệu, hai trăm ba mươi ba ngàn, sáu trăm ba mươi bảy đồng) đồng, với mỗi hoá đơn thu về 1.000.000đ. Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Thùy N đã thu lợi bất chính là 16.000.000 đồng. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 203 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình (nay là thành phố H) tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Điều 203: Tội in, phát hành mua bán trái phép hoá đơn, chứng từ nộp ngân sách nhà nước.
- Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại hoá đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước, quy định của Nhà nước về quản lý tài chính tiền tệ. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, có kinh nghiệm trong lĩnh vực kế toán, bị cáo nhận thức rõ được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng với mục đích vụ lợi, muốn thu lời bất chính từ việc mua bán hoá đơn đã lợi dụng từ việc công ty gia đình do chồng là Nguyễn Mạnh Q1 làm giám đốc, thừa hoá đơn GTGT đầu ra nên đã chủ động bàn với anh Phạm Văn H là giám đốc công ty mà mình làm kế toán thời vụ với giá 1.000.000đ/1 hoá đơn. Trong khoảng thời gian các năm 2019, 2020 và 2021 bị cáo Nguyễn Thùy N đã xuất khống 16 hoá đơn GTGT của công ty M và thu lời bất chính 16.000.0000đ. Vì vậy, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm chung. Khi quyết định hình phạt cần xem xét bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm: phạm tội thuộc trường hợp “ Phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; bị cáo có thái độ “ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” ; bị cáo đã nộp lại số tiền thu lời bất chính 16.000.000đ đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo phạm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội với mục đích vụ lợi, đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lời bất chính do đó áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền là phù hợp.
- Các vấn đề khác:
- Về số vật chứng đã thu giữ: đối với 01 con dấu tròn có nội dung “Công ty trách nhiệm hữu hạn M – TP . - T. N – MSDN: 2700.603.712 – CTTNHH”; 01 con dấu chức danh mang tên “Nguyễn Mạnh Q1” là con dấu của công ty M, cần trả lại cho công ty để công ty tiếp tục hoạt động.
- Đối với số tiền thu lời bất chính 16.000.000₫ bị cáo đã tự nguyện nộp lại, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Hành vi sử dụng 16 hóa đơn GTGT không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo nhằm mục đích để trốn thuế với số tiền 361.723.363 đồng của Phạm Văn H và Nguyễn Thùy N đã xét xử tại bản án số 25/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với anh Nguyễn Mạnh Q1, quá trình làm việc tại Công ty M, bị cáo Nguyễn Thùy N vẫn trình các giấy tờ, hợp đồng, hoá đơn vận chuyển hàng hoá của công ty cho anh Q1 ký. Do là vợ chồng nên anh Q1 tin tưởng không hỏi chi tiết các hợp đồng, giấy tờ, hoá đơn mà bị cáo Nguyễn Thùy N trình ký. Trên thực tế giữa Công ty M và Công ty C1 có hợp đồng liên kết hợp tác với nhau trong việc vận chuyển hàng hoá. Quá trình điều tra xác định anh Q1 không biết việc bị cáo N bán trái phép hoá đơn cho anh H, anh Q1 không được hưởng lợi gì nên không vi phạm.
- Đối với hành vi ký khống vào 06 hoá đơn của bị cáo Nguyễn Thùy N, quá trình điều tra xác định: Cuối năm 2022, khi chi cục thuế K1 - Y chuẩn bị kiểm tra việc chấp hành pháp luật về thuế của Công ty C1 kiểm tra thấy ở một số hoá đơn đang để trống ở mục “Người bán hàng” nên Nguyễn Thùy N đã tự ký chữ ký giả vào các mục còn trống để hoàn thiện hoá đơn, chuẩn bị cho việc Cơ quan Thuế kiểm tra. Các hoá đơn trên đều là các hoá đơn thật của công ty M. Vì vậy hành vi của Nguyễn Thùy N không đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: khoản 1 Điều 203; các điểm i,s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 47; Điều 35 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thùy N phạm tội "Mua bán trái phép hoá đơn”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thùy N 80.0000.000đ (Tám mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
Trả lại cho công ty M (do ông Nguyễn Mạnh Q1 là người đại diện theo pháp luật): 01 con dấu tròn có nội dung “Công ty trách nhiệm hữu hạn M – TP . - T. N - MSDN: 2700.603.712 – CTTNHH”; 01 con dấu chức danh mang tên “Nguyễn Mạnh Q1".
(Vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 02 năm 2024 giữa Công an Thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư).
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 16.000.000đ là tiền thu lời bất chính mà bị cáo đã tự nguyện nộp. (Số tiền 16.000.000 hiện đang ở tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư tại kho bạc Nhà nước thành phố H, theo ủy nhiệm chi ngày 10 tháng 02 năm 2025).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thùy N phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Việt Thanh |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Phạm Thị Ngọc Nga – Đặng Đình Phương | Trịnh Việt Thanh |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH về mua bán trái phép hoá đơn
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hoá đơn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thuỳ N bị xét xử về tội Mua bán trái phép hoá đơn theo khoản 1 Điều 203 BLHS
