Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HSST

Ngày: 17-02-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tăng Tài Thủ.

Ông Nguyễn Viết Ngoan.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Toà án nhân dân quận Thốt Nốt - Thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - Thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Xa - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn T, sinh năm 2005; Nơi đăng ký thường trú: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1983 và bà Trương Thị M, sinh năm 1984; Tiền án: Không; Tiền sự: 02 lần. Lần thứ nhất: Ngày 03/3/2023, Công an phường T, quận T, thành phố Cần Thơ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, chưa đóng phạt. Lần thứ hai: Ngày 26/12/2023, Công an phường T, quận T, thành phố Cần Thơ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, hiện chưa đóng phạt; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)

- Người bị hại: Anh Huỳnh Văn B – sinh năm 2003. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 1/ Anh Nguyễn Thành Đ – sinh năm 1993. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Xin vắng mặt.
  • 2/ Ông Nguyễn Thanh T1 – sinh năm 1983. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • 1/ Ông Huỳnh Văn T2 – sinh năm 1975. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
  • 2/ Anh Nguyễn Tuấn H – sinh năm 2002. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 08/10/2024, sau khi tham gia trò chơi điện tử trực tuyến tại nhà thuộc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, Nguyễn Tuấn T đi bộ đến nhà của Huỳnh Văn B ngụ cùng khu vực để rủ B cùng tham gia trò chơi điện tử. Khi đến nhà của B, T thấy cửa nhà của B không khóa nên T đi vào trong thấy B đang nằm ngủ, trên đầu giường có 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh dương đang sạc pin, T biết điện thoại này của B do nhiều lần Bền cho T mượn để tham gia trò chơi điện tử nên T nảy sinh ý định lấy trộm di động hiệu Iphone 13 màu xanh dương của B; T đi đến đầu giường tháo dây sạc và lấy điện thoại Iphone 13 của B cho vào túi quần T đang mặc và đi về nhà. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65EA-092.14 của Nguyễn Tuấn H (anh ruột của T) đến cửa hàng điện thoại di động Thành Đạt gần cầu Ô thuộc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ do Nguyễn Thành Đ làm chủ để cầm điện thoại di động Iphone 13 trộm của B với giá 7.000.000 đồng. Sau đó, T đến cửa hàng điện thoại di động Đ thuộc phường T, quận T chuộc lại điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus đã cầm trước đó với số tiền 1.400.000 đồng, T chi tiêu 1.100.000 đồng còn lại 4.500.000 đồng T cất giữ.

Đến khoảng 14 giờ 10 phút ngày 08/10/2024, Huỳnh Văn B trình báo Công an phường T và giao nộp 01 hộp đựng điện thoại di động hiệu Iphone 13 có ghi số hiệu 0727 xanh trên vỏ hộp, ký hiệu số seri là QYGR7R02VJ (Bút lục 53); 01 tờ hóa đơn tại Thế giới di động ghi tên khách hàng Huỳnh Văn B. Khi tiếp nhận tin báo Công an phường tiến hành xác minh và mời Nguyễn Tuấn T làm việc, qua làm việc T thừa nhận hành vi lấy trộm điện thoại di động hiệu Iphone 13 của B và giao nộp 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu trắng hồng, 01 (một) giấy biên nhận cầm đồ Iphone 13 tại cửa hàng Đ1 và 4.500.000 đồng tiền Việt Nam (Bút lục 52).

Nguyễn Thành Đ giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh dương, số EMEI 353874233208637 và EMEI 2: 35387423326678. (Bút lục 55).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 56/BKL-HĐĐGTS ngày 10/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận T, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh dương, số EMEI 353874233208637 và EMEI 2: 35387423326678 (đã qua sử dụng) có giá trị 8.500.000₫ (Tám triệu năm trăm ngàn đồng). (Bút lục 66, 67).

Quá trình điều tra, Nguyễn Tuấn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với chứng cứ đã được thu thập. Đồng thời, bị cáo cũng thống nhất với kết luận định giá, bị cáo không ý kiến gì khác. (Bút lục 105-117).

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ theo quy định; đồng thời, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định trả lại cho:

  • - Huỳnh Văn B: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh dương, số IMEI là 353874233208637 và số IMEI 2 là 353874233326678; 01 (một) tờ hóa đơn tại Thế giới di động ghi tên khách hàng Huỳnh Văn B; 01 (một) hộp đựng điện thoại di động hiệu Iphone 13 có ghi số hiệu 0727 xanh trên vỏ hộp, ký hiệu số seri là QYGR7R02VJ;
  • - Trả cho Nguyễn Thành Đ số tiền 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng);
  • - Trả cho Nguyễn Tuấn T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu trắng hồng số IMEI 353813088238554, T ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh T1 (cha ruột của T) nhận thay. (Bút lục 72-74).

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 65EA-092.14 của Nguyễn Tuấn H do H không biết Nguyễn Tuấn T lấy xe mô tô đi cầm điện thoại di động hiệu Iphone 13 trộm của Huỳnh Văn B nên Cơ quan điều tra Công an quận T không đề cập đến vấn đề xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Huỳnh Văn B đã nhận lại được tài sản mất trộm không yêu cầu gì thêm; Nguyễn Thành Đ yêu cầu Nguyễn Tuấn T bồi thường số tiền 7.000.000 đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại số tiền 4.500.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Tuấn T và ông Nguyễn Thanh T1 (cha ruột của T) bồi thường số tiền 2.500.000 đồng, Đ nhận đủ số tiền 7.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm. (Bút lục 64-66).

Tại Cáo trạng số 10/CT-VKSTN ngày 03 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, bị cáo không có ý kiến gì khác.

Bị hại vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày như trong quá trình điều tra, không có ý kiến gì khác.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời phát biểu quan điểm luận tội, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bị cáo Nguyễn Tuấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Huỳnh Văn B đã nhận lại được tài sản mất trộm không yêu cầu gì thêm; Nguyễn Thành Đ yêu cầu Nguyễn Tuấn T bồi thường số tiền 7.000.000 đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại số tiền 4.500.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Tuấn T và ông Nguyễn Thanh T1 (cha ruột của T) bồi thường số tiền 2.500.000 đồng, Đ nhận đủ số tiền 7.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định trả lại cho: Huỳnh Văn B 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh dương, số IMEI là 353874233208637 và số IMEI 2 là 353874233326678; 01 (một) tờ hóa đơn tại Thế giới di động ghi tên khách hàng Huỳnh Văn B; 01 (một) hộp đựng điện thoại di động hiệu Iphone 13 có ghi số hiệu 0727 xanh trên vỏ hộp, ký hiệu số seri là QYGR7R02VJ; Trả cho Nguyễn Thành Đ số tiền 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng); Trả cho Nguyễn Tuấn T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus, màu trắng hồng số IMEI 353813088238554, T ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh T1 (cha ruột của T) nhận thay là phù hợp nên không xem xét giải quyết.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 65EA-092.14 của Nguyễn Tuấn H do H không biết Nguyễn Tuấn T lấy xe mô tô đi cầm điện thoại di động hiệu Iphone 13 trộm của Huỳnh Văn B nên Cơ quan điều tra Công an quận T không xử lý là phù hợp nên không xem xét giải quyết.

  • - Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Bị cáo không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại không tham gia tranh luận, đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy trong điều tra đã thu thập được lời khai của những người vắng mặt, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai của những người vắng mặt tại Toà. Do đó, việc vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các điều Điều 292 và 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.

[3] Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như: Các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và kết luận định giá tài sản. Như vậy, có cơ sở để xác định vào ngày 08/10/2024 bị cáo Nguyễn Tuấn T lợi dụng lúc bị hại Huỳnh Văn B đang nằm ngủ, bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm lấymột điện thoại di động hiệu Iphone 13 màu xanh dương, số IMEI 353874233208637 và IMEI 2: 35387423326678 của bị hại Huỳnh Văn B đang để sạc pin trên đầu giường với giá trị qua Kết luận định giá tài sản là 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm ngàn đồng), sau đó bị cáo đem điện thoại đã lấy trộm của bị hại B cầm được số tiền 7.000.000 đồng để có tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi sai trái mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tạikhoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét thấy, bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ nhận thức hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì mong muốn có tiền để tiêu xài mà không phải tốn công sức lao động chính đáng nên bị cáo bất chấp quy định của pháp luật thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, đồng thời còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về nhân thân: Nhân thân bị cáo xấu, bị cáo có 02 tiền sự: Lần thứ nhất: Ngày 03/3/2023, Công an phường T, quận T, thành phố Cần Thơ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, chưa đóng phạt. Lần thứ hai: Ngày 26/12/2023, Công an phường T, quận T, thành phố Cần Thơ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, hiện chưa đóng phạt.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đến thái độ khai báo của bị cáo trong điều tra và tại phiên tòa có thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo cũng đã nhận thức được hành vi sai trái của bản thân nên đã vận động gia đình nộp lại số tiền thu lợi để bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và bị hại cũng có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

[9] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Như Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

[11] Về vấn đề khác: Đối với Nguyễn Thành Đ nhận cầm điện thoại di động hiệu Iphone 13 của Nguyễn Tuấn T do Đ không biết tài sản do T trộm cắp mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T không xử lý là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[12] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

* Tuyên bố:

1. Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Tuấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Tuấn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/10/2024.

Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn T nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

3. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

4. Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND quận Thốt Nốt;
  • - Công an quận Thốt Nốt;
  • - Chi cục THADS quận Thốt Nốt;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Mộng Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HSST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 12/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo: Nguyễn Tuấn T, sinh năm 2005; Nơi đăng ký thường trú: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger