TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST Ngày 17-02-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Bích Th.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Tuấn Thịnh.
- Bà Trần Thị Huệ.
Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Tươi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Đỗ Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 171/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Giàng Thị M - Sinh năm 1995.
- Bị đơn: Anh Giàng Seo Ch - Sinh năm 1996.
- Người phiên dịch: Ông Cư A C.
Địa chỉ: Thôn C, xã Ph, huyện B, tỉnh L. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã Ph, huyện B, tỉnh L. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án và biên bản lấy lời khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, chị Giàng Thị M trình bày:
Chị và anh Giàng Seo Ch chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017, đến ngày 29/8/2018 anh chị mới đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Lùng Cải, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai theo quy định. Quá trình chung sống đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cách làm ăn tạo dựng cuộc sống gia đình và nuôi dậy con cái, không tìm được tiếng nói chung, từ đó vợ chồng thường xuyên xô xát cãi nhau, mỗi lần cãi nhau thì anh Chứ lại đánh đập chị, cuộc sống gia đình không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn của anh chị đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng tình cảm vẫn không cải thiện được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Đến đầu tháng 10 năm 2024 vợ chồng anh chị xô xát, anh Chứ lại tiếp tục đánh chị Mẩy nên chị đã bỏ về nhà anh trai để sinh sống, anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Bản thân chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên đến nay chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Giàng Seo Ch.
Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có hai người con chung tên là Giàng Thị S, sinh ngày: 27/04/2018 và Giàng Mai Ph, sinh ngày 02/09/2019, hiện tại các cháu phát triển bình thường. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi cháu Giàng Thị S và cháu Giàng Mai Ph đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Chứ phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung: Về tài sản chung anh chị tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, do anh Giàng Seo Ch đi làm ăn xa, không thường xuyên có mặt tại địa phương, nên Tòa án không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho anh Chứ và Tòa án đã tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận không khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên Toà án không hòa giải được vụ án vì vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật: Về thủ tục Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật, đúng tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ và giải quyết trong thời hạn luật định.
Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng; Bị đơn đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, quá trình giải quyết vụ án thì bị đơn vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử cho chị Giàng Thị M được ly hôn với anh Giàng Seo Ch; Giao cháu Giàng Thị S và cháu Giàng Mai Ph cho chị Giàng Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh Chứ không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, được đi lại thăm nom. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Giàng Thị M khởi kiện xin ly hôn với anh Giàng Seo Ch. Bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Giàng Thị M và anh Giàng Seo Ch là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cách làm ăn tạo dựng cuộc sống gia đình và nuôi dậy con cái, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng anh chị sống ly thân từ tháng 10 năm 2024 không còn quan tâm đến nhau, mỗi người một nơi. Trong quá trình giải quyết vụ án, do anh Chứ không thường xuyên có mặt tại địa phương vì vậy Tòa án đã tiến hành xác minh và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Mâu thuẫn của vợ chồng chị Mẩy đã được địa phương xác nhận là đúng sự thật. Vì vậy việc chị Mẩy xin ly hôn với anh Chứ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Do anh Giàng Seo Ch đi làm ăn xa không thường xuyên có mặt tại địa phương, nên Tòa án không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho anh Chứ và Tòa án đã tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà, chị Giàng Thị M vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, chị vẫn giữ nguyên quan điểm và yêu cầu của mình. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt chị Giàng Thị M và anh Giàng Seo Ch là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có hai người con chung là Giàng Thị S, sinh ngày: 27/04/2018 và Giàng Mai Ph, sinh ngày 02/09/2019, hiện tại các cháu phát triển bình thường. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi cháu Giàng Thị S và cháu Giàng Mai Ph đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Chứ phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, anh Chứ vắng mặt tại địa phương nên Tòa án phải niêm yết các văn bản tố tụng cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, còn chị Mẩy thì có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung và đã cung cấp đơn có xác nhận của địa phương về mức thu nhập của bản thân, đảm bảo điều kiện nuôi con. Vì vậy cần tiếp tục giao cháu Giàng Thị S và cháu Giàng Mai Ph cho chị Mẩy trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Do chị Mẩy không yêu cầu anh Chứ cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị Mẩy trình bày về tài sản chung anh chị tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết; Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Mẩy phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Xử cho chị Giàng Thị M được ly hôn với anh Giàng Seo Ch. Quan hệ hôn nhân giữa chị Giàng Thị M và anh Giàng Seo Ch chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao cháu Giàng Thị S, sinh ngày: 27/04/2018 và cháu Giàng Mai Ph, sinh ngày: 02/09/2019 cho chị Giàng Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
- Về án phí: Chị Giàng Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001064 ngày 29/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Chị Giàng Thị M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Giàng Seo Ch không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, anh Giàng Seo Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai;
- - VKSND huyện Bảo Thắng (2);
- - THADS huyện Bảo Thắng;
- - UBND xã Lùng Cải, huyện Bắc Hà;
- - Đương sự (02);
- - Lưu HS, TA, VP .
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Bích Thủy |
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
