TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/DS-ST
Ngày: 14-02-2025
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thơ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hữu Thiện;
- Ông Mai Văn Tự.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Hậu, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Lâm Phượng Tú – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 638/2023/TLST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1939; địa chỉ: Số A, tổ C, ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1961; địa chỉ: Số nhà F, tổ B, ấp B, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị N, sinh năm 1970; địa chỉ: Số I, tổ C, ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, là người đại diện theo ủy quyền. (Văn bản ủy quyền ngày 11-12-2023) (có mặt)
2
- Bà Võ Thị L, sinh năm 1960; địa chỉ: Số nhà F, tổ B, ấp B, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
- Bà Lê Thị S, sinh ngày 04-7-1965; địa chỉ: Số E, tổ A, ấp B, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
- Bà Lê Thị N, sinh năm: sinh năm 1970; địa chỉ: Số I, tổ C, ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 28-11-2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 11-01-2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Chồng bà V là ông Lê Văn B (chết năm 1974), sau khi chết thì bà V và các con về xã C để sinh sống, phần đất tranh chấp có nguồn gốc do bà V mua của ông 6 A (anh họ của bà V) để khai phá sản xuất. Đến năm 1996 bà V được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00444 QSDĐ/450405 ngày 01-10-1996 diện tích 6.945m² thửa 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22 tờ bản đồ số 3. Năm 2023 bà V làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi đo đạc lại thì phát hiện còn một phần đất diện tích 968,5m² thửa 25 tờ bản đồ số 9 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích tăng thêm của giấy đất đã được cấp là 611,9m². Khi làm thủ tục cấp bổ sung đối với diện tích tăng thêm, cơ quan có thẩm quyền đã làm thủ tục niêm yết xong, bà V đã nộp thuế để cấp bổ sung đối với diện tích tăng thêm là 611,9m² của thửa đất 16 và 20 nhưng sau khi trích lục hồ sơ kê khai đăng ký thì thể hiện nguồn gốc đất mua của ông A C1 với con: Nuôi, S, Cu; vì vậy Văn phòng đăng ký yêu cầu ông C phải đồng ý ký tên thì mới cấp giấy đất cho bà V được, nhưng ông C không đồng ý. Nay bà V yêu cầu Tòa án công nhận quền sử dụng đất diện tích 968,5m² cho bà V, yêu cầu ông C bà L trả lại cho bà các phần đất diện tích 968,5m² thửa 25 tờ bản đồ số 9, diện tích 3.791,3m² thửa 20 tờ bản đồ số 9 và diện tích 3.765,6m² thửa 16 tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Bà V đề nghị Tòa án xem xét chia toàn bộ diện tích đất của các thửa 16, 20, 25 là diện tích 8.525,4m² thành 04 phần bằng nhau theo như hồ sơ đăng ký kê khai quyền sử dụng đất, tương đương mỗi phần là 2.131,35m², như vậy lẽ ra ông C được hưởng là 2.131,35m² nhưng bà V chỉ yêu cầu công nhận cho bà V diện tích 968,5m² thửa 25 tờ bản đồ số 09 và diện tích 4.262,7m² (02 phần); diện tích còn lại là 3.294,2m² bà đồng ý cho ông C bà L quản lý sử dụng xem như bà trích công sức gìn giữ cải tạo đất cho ông C bà L.
3
Tại biên bản lấy lời khai ngày 28-3-2024 ông C trình bày: Vào năm 1977, ông Nguyễn Văn A có bán cho bà V phần đất diện tích 01 ha, có làm giấy tay mua bán. Đất khi này chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vào năm 1988 - 1989, bà V có cho vợ chồng ông phần đất này chỉ cho bằng miệng, không có văn bản giấy tờ gì, do đất xấu khó canh tác, vợ chồng ông khai phá sau đó sản xuất lúa, sau đó khô hạn thì vợ chồng ông trồng mì, trồng cao su trên đất từ năm 2000 đến nay. Năm 1994 vợ chồng ông đăng ký kê khai quyền sử dụng đất thì ông không biết lý do gì bà V không cho vợ chồng ông kê khai đăng ký, nhưng bà V chỉ được cấp giấy đất là 6.945m², ông đòi bà V đưa giấy mua bán để ông kiện đi đòi đất ông A nhưng bà V không đưa. Khi bà V không cho đăng ký kê khai thì vợ chồng ông có khiếu nại và được Ủy ban nhân dân Huyện D giải quyết khiếu nại bằng Quyết định số 1411/QĐ-UBND ngày 24-7-2007. Ông khiếu nại cho đến năm 2007 thì ông được giải quyết bà V cho ông 1.200m² đất thổ cư và 01 ha đất ruộng – tức phần đất hiện nay ông đang sử dụng trồng cao su. Bà V nhiều lần hứa tách thửa sang tên, hứa sau khi ông ký tên để bán đất ở G xong sẽ tách thửa sang tên cho ông phần đất đã cho nhưng sau đó bà V cũng không sang tên. Ông không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà V.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 28-3-2024 bà L trình bày: Vào năm 1989, bà V có cho vợ chồng bà phần đất này, do đất xấu khó canh tác, vợ chồng bà khai phá sau đó sản xuất lúa, sau đó khô hạn thì vợ chồng bà trồng mì, trồng cao su trên đất từ năm 2000 đến nay. Năm 1994 vợ chồng bà đăng ký kê khai quyền sử dụng đất thì bà không biết lý do gì bà V không cho vợ chồng bà kê khai đăng ký. Vợ chồng bà có khiếu nại và được Ủy ban nhân dân Huyện D giải quyết khiếu nại bằng Quyết định số 1411/QĐ-UBND ngày 24-7-2007. Vào năm 1988, 1989 thì bà V chỉ cho vợ chồng bà bằng miệng, không có văn bản giấy tờ gì. Bà khiếu nại cho đến năm 2007 thì bà được giải quyết bà V cho vợ chồng bà 1.200m² đất thổ cư và 01 ha đất ruộng – tức phần đất hiện nay bà đang sử dụng trồng cao su. Bà V nhiều lần hứa tách thửa sang tên nhưng không tách thửa sang tên cho vợ chồng bà. Bà V yêu cầu ông C ký tên để bán đất ở G xong sẽ tách thửa sang tên cho ông C phần đất đã cho nhưng sau đó bà V cũng không sang tên. Bà không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà V. Đất này bà V đã cho vợ chồng bà, vợ chồng bà đã sử dụng đến nay hơn 30 năm nên bà V không có quyền khởi kiện đòi lại.
Bà Lê Thị S và bà Lê Thị N trình bày: Ba ruột bà tên Lê Văn B (chết năm 1974), sau khi chết thì mẹ - bà Nguyễn Thị V về xã C để sinh sống, phần đất này bà V mua của ông 6 A (anh họ của bà V) để khai phá sản xuất. Đến năm 1996 bà V được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00444 QSDĐ/450405 ngày
4
01-10-1996 diện tích 6.945m² thửa 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22 tờ bản đồ số 3. Khi mua đất thì gia đình gồm có mẹ - Nguyễn Thị V, các anh chị gồm: ông Lê Văn C, sinh năm 1961; Lê Thị S, sinh năm 1965; Lê Thị N, sinh năm 1970; Lê Thị T, sinh năm 1971; Lê Thị Đ, sinh năm 1973; các anh chị em đều chưa có vợ, có chồng nên mẹ và các anh chị em sinh sống cùng nhau, cùng sản xuất trồng trọt trên đất. Sau khi ông C lấy vợ vẫn sống cùng bà V và sử dụng đất để trồng trọt, khi ông C có 02 người con thì xảy ra mâu thuẫn nên vợ chồng ông C về ấp B, xã C để sống cho đến nay, ông C vẫn sử dụng đất này, ông C yêu cầu bà V sang tên đất cho ông C nhưng bà V không đồng ý. Sau khi ông C ra ở riêng, bà V sống cùng chị Lê Thị Tuyết . Ông C không nuôi dưỡng bà V. Trước đây bà V bán phần đất ở G 01ha để về mua đất của ông 6 A (hiện nay đang tranh chấp), phần còn lại là 5 công bà V bán cách nay 2 – 3 năm được số tiền 250.000.000 đồng, sau khi bán bà V cho các con mỗi người 20.000.000 đồng, số tiền còn lại bà V sử dụng để tiêu xài cá nhân cho đến nay. Bà V có tặng cho các con mỗi người một phần đất cất nhà ở. Còn phần đất nhà ở của bà V còn lại mười mấy mét ngang thì bà V sang tên cho chị Lê Thị T đứng tên. Còn một phần đất khoảng 10m ngang bà V cho ông C nhưng ông C chưa làm thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ ông C đòi phải cho 30m ngang thì mới nhận. Năm 2023 bà V làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi đo đạc lại thì phát hiện còn một phần đất diện tích 968,5m² thửa 25 tờ bản đồ số 9 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, và thửa đất 16, 20 diện tích tăng thêm 611,9m², bà V làm thủ tục chỉnh lý biến động đối với diện tích tăng thêm, cơ quan có thẩm quyền đã làm thủ tục niêm yết xong, bà V đã nộp thuế để cấp bổ sung, nhưng sau khi trích lục hồ sơ kê khai đăng ký thì thể hiện nguồn gốc đất mua của ông A C1 với con: Nuôi, S, Cu vì vậy Văn phòng đăng ký yêu cầu ông C phải đồng ý ký tên thì mới cấp giấy đất cho bà V được, nhưng ông C không đồng ý, từ đó xảy ra tranh chấp. Bà yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho bà V diện tích đất 968,5m² thửa 25 tờ bản đồ số 09, và yêu cầu ông C trả lại cho bà V quyền sử dụng đất diện tích 3.765,6m² thửa 16 và diện tích 3.791,3m² thửa 20 tờ bản đồ số 9 vì thực tế bà V mua đất này của ông A, không phải là tài sản chung của bà V và các con Nuôi, S, Cu. Nếu xác định đây là quyền sử dụng đất của hộ gia đình của bà V cùng với bà S, ông C, bà N thì đối với phần của bà S và bà N đồng ý để bà V đứng tên quyền sử dụng đất, bà không tranh chấp với bà V, ông C bà L.
Tại biên bản định giá ngày 30-10-2024 thể hiện:
- + Giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp là 3.410.160.000 đồng
5
- + Giá trị cây trồng trên đất là: 02 cây tràm vàng đường kính 10cm – 20cm trị giá 600.000 đồng; 18 cây tràm vàng đường kính 21cm – 30cm trị giá 10.800.000 đồng; 12 cây tràm vàng đường kính 31cm – 40cm trị giá 14.400.000 đồng; 05 cây tràm vàng đường kính 41cm – 50cm trị giá 10.000.000 đồng; 378 cây cao su 17 năm tuổi trị giá 151.200.000 đồng; 283 cây cao su 02 năm tuổi trị giá 33.960.000 đồng. Tổng cộng là 220.960.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm về việc giải quyết vụ án.
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi liên quan chấp hành đúng theo quy định của Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V đối với ông C về tranh chấp QSDĐ: Bà V được quyền sử dụng diện tích đất 968,5m² thửa 25 tờ bản đồ số 09 tọa lạc ấp K, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Ông C, bà L có trách nhiệm trả lại cho bà V quyền sử dụng đất diện tích 3.765,6m² thửa 16 và diện tích 3.791,3m² thửa 20 tờ bản đồ số 9 tọa lạc xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận bà V tặng cho ông C, bà L quyền sử dụng đất bằng ¼ tổng diện tích đất là 2.131,35m² và trích công sức gìn giữ cải tạo đất tương đương 1.162,85m². Ghi nhận bà V đồng ý bồi thường toàn bộ giá trị cây trồng trên đất và được sở hữu toàn bộ cây trồng trên đất. Ghi nhận bà S, bà N không tranh chấp với bà V, ông C, bà L. Về chi phí tố tụng: Ông C, bà Lẽ P chịu; về án phí: Các đương sự được miễn nộp tiền án phí do trên 60 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
- [1] Về tố tụng: Bà V khởi kiện ông C yêu cầu trả lại quyền sử dụng đất và yêu cầu công nhận cho bà V quyền sử dụng đất. Căn cứ khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 166 của Bộ luật dân sự xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Đất tọa lạc tại xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, căn cứ khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- [2] Về nội dung:
6
- [2.1] Các bên đều thừa nhận phần đất tranh chấp có nguồn gốc của bà Nguyễn Thị V mua của ông A vào năm 1977, đến năm 1996 bà V được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00444 QSDĐ/450405 ngày 01-10-1996 diện tích 6.945m² thửa 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22 tờ bản đồ số 3. Gia đình bà V chỉ có ông C là con trai, tuy nhiên sau khi ông C lấy vợ và sinh con thì vợ chồng ông C và bà V có mâu thuẫn nên không sống cùng và không nuôi dưỡng bà V. Ông C, bà L cho rằng ông bà được bà V cho đất tuy nhiên không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh; bà L thừa nhận vào năm 1994 vợ chồng bà đăng ký kê khai nhưng bà V không đồng ý; giữa bà L, ông C và bà V đã phát sinh tranh chấp đất đai từ năm 1994. Bà V không thừa nhận việc tặng cho ông C, bà L do ông C không nuôi dưỡng bà V, nên nhiều lần ông C yêu cầu bà V sang tên đất nhưng bà V không đồng ý; tại Quyết định số 2601/QĐ-CT ngày 23-11-2004 giải quyết khiếu nại của UBND Huyện D cũng thể hiện bà V đòi lại phần đất diện tích 6.945m². Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn, tranh chấp đối với phần đất trên kéo dài từ năm 1994 cho đến nay, bà V không tặng cho đất như ông C bà L trình bày. Vợ chồng ông C, bà L thực tế có sử dụng đất, tuy nhiên việc sử dụng đất không ổn định, tranh chấp kéo dài, đến nay bà V vẫn không đồng ý tặng cho và thực hiện thủ tục sang tên QSDĐ cho vợ chồng ông C nên không có căn cứ công nhận QSDĐ cho vợ chồng ông C và bà L.
- [2.2] Vợ chồng ông C cho rằng có khiếu nại và được UBND Huyện D giải quyết khiếu nại bằng Quyết định số 1411, ngày 24-7-2007, thể hiện bà V có cho vợ chồng 1.200m2 và 01 ha đất ruộng, tuy nhiên nội dung Quyết định này không xác định việc bà V tặng cho ông C bà L phần đất tranh chấp như lời trình bày của ông C bà L và Quyết định này cũng đã bị thu hồi bằng Quyết định số 2396/QĐ-UBND, ngày 20-12-2007 của UBND Huyện D. Tòa án đã thông báo cho vợ chồng ông C và bà L về việc có yêu cầu hủy giấy CNQSDĐ thì phải nộp đơn yêu cầu nhưng ông C và bà L không thực hiện việc khởi kiện đồng thời vắng mặt, không chấp hành theo triệu tập của Tòa án.
- [2.3] Năm 2023, bà V làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi đo đạc lại thì phát hiện còn một phần đất diện tích 968,5m² thửa 25 tờ bản đồ số 9 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích tăng thêm là 611,9m² (thuộc thửa mới 16, 20, tờ bản đồ số 9). Tại Công văn số 4424/CV-VPĐKĐĐ, ngày 19-11-2024 kèm theo tài liệu sổ mục kê thể hiện thửa 25, tờ bản đồ số 9 là thửa riêng biệt, bà V kê khai đăng ký nhưng chưa được cấp giấy CNQSDĐ. Do có căn cứ xác định toàn bộ QSDĐ tranh chấp là của bà V nên bà V yêu cầu công nhận diện tích đất 968,5m² thửa 25 tờ bản đồ số 09 là của bà V và yêu cầu ông C, bà L trả lại cho bà V quyền sử dụng đất diện tích
7
3.765,6m² thửa 16 và diện tích 3.791,3m² thửa 20 tờ bản đồ số 9 tọa lạc xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ chấp nhận.
- [3] Bà V yêu cầu chia tổng diện tích đất của các thửa 16, 20, 25 là diện tích 8.525,4m² thành 04 phần bằng nhau theo như đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất vào năm 1994 “chung với con Nuôi, S, C mua của ông sáu A”, tương đương mỗi phần là 2.131,35m², tuy nhiên bà V chỉ yêu cầu công nhận cho bà V diện tích 968,5m² thửa 25 tờ bản đồ số 09 và diện tích 4.262,7m²; phần diện tích ông C được hưởng là 2.131,35m², bà tự nguyện tặng cho ông C bà L và bà đồng ý trích công sức gìn giữ cải tạo đất cho ông C bà L là 1.162,85m², tổng cộng diện tích đất ông C bà L được hưởng là 3.294,2m². Đối với cây trồng trên đất ông C, bà L trồng; tại phiên tòa, bà N – đại diện theo ủy quyền cho bà V đồng ý bồi thường toàn bộ giá trị cây trồng trên đất cho ông C bà L. Xét thấy, ông C bà L là người sử dụng đất trồng cây trên đất, gìn giữ cải tạo đất và cũng đã hưởng hoa lợi, lợi tức trên đất do đó bà V tự nguyện tặng cho ông C, bà L diện tích 2.131,35m², trích công sức gìn giữ cải tạo đất bằng quyền sử dụng đất diện tích 1.162,85m² và bồi thường toàn bộ giá trị cây trồng trên đất là phù hợp quy định pháp luật nên ghi nhận.
- [4] Bà S, bà N xác định tài sản là quyền sử dụng đất của bà V, không phải tài sản chung của bà V và bà N, bà S, ông C nên đồng ý để bà V toàn quyền quản lý sử dụng và quyết định việc tặng cho ông C bà L. Bà N, bà S không tranh chấp với bà V, ông C nên ghi nhận.
- [5] Xét thấy, đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
- [6] Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí định giá là 5.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của bà V được chấp nhận nên ông C bà Lẽ phải chịu là 5.000.000 đồng. Bà V đã nộp tạm ứng, ông C bà L có nghĩa vụ hoàn trả cho bà V số tiền 5.000.000 đồng.
- [7] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà V, ông C, bà L được miễn nộp tiền án phí do trên 60 tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
8
Căn cứ vào các Điều 158, 166, 189 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 138, 236 của Luật đất đai năm 2024; Điều 147, 157, 165, 227, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị V về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Bà Nguyễn Thị V được quyền quản lý sử dụng các phần đất:
- Diện tích 4.262,7m² thuộc một phần thửa 20 tờ bản đồ số 09 và một phần thửa 16 tờ bản đồ số 09, có tứ cận:
- + Đông giáp đường đất dài 49,5m;
- + Tây giáp đường đất dài 47,01m;
- + Nam giáp thửa 21, 24, 25;
- + Bắc đất ông C bà lẽ được tặng cho dài 84,32m.
- Công nhận cho bà Nguyễn Thị V được quyền quản lý sử dụng diện tích 968,5m² thửa 25 tờ bản đồ số 09, có tứ cận:
- + Đông giáp đường đất;
- + Tây giáp thửa 24;
- + Nam giáp thửa 32;
- + Bắc giáp thửa 20.
- Ông C, bà L có nghĩa vụ trả cho bà V diện tích 4.262,7m² thuộc thửa 20 tờ bản đồ số 09 và một phần thửa 16 tờ bản đồ số 09 và diện tích 968,5m² thửa 25 tờ bản đồ số 09.
- Bà Nguyễn Thị V được quyền quản lý sử dụng các phần đất:
- Ghi nhận bà Nguyễn Thị V tự nguyện tặng cho ông Lê Văn C, bà Võ Thị L diện tích 3.294,2m² thuộc thửa 16 tờ bản đồ số 9 và một phần thửa 20 tờ bản đồ số 9, có tứ cận:
- + Đông giáp đường đất dài 59,83m và 5,21m
- + Tây giáp đường đất dài 34,71m;
- + Nam giáp đất bà V dài 84,32m;
- + Bắc đường đất dài 50,17m và 3,69m.
9
- Kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00444 QSDĐ/450405 ngày 01-10-1996 diện tích 6.945m² thửa 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22 tờ bản đồ số 3 để cấp lại cho các đương sự theo quyết định của Bản án.
- Ghi nhận bà Nguyễn Thị V tự nguyện bồi thường giá trị cây trồng trên đất cho ông C bà L là 220.960.000 (hai trăm hai mươi triệu chín trăm sáu mươi nghìn) đồng.
Bà Nguyễn Thị V được quyền sử dụng toàn bộ cây trồng trên đất gồm: 02 cây tràm vàng đường kính 10cm – 20cm; 18 cây tràm vàng đường kính 21cm - 30cm; 12 cây tràm vàng đường kính 31cm – 40cm; 05 cây tràm vàng đường kính 41cm – 50cm; 378 cây cao su 17 năm tuổi; 283 cây cao su 02 năm tuổi.
- Ghi nhận bà Lê Thị N, bà Lê Thị S không tranh chấp với bà Nguyễn Thị V, ông Lê Văn C, bà Võ Thị L.
- Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn C, bà Võ Thị L có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Nguyễn Thị V chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá số tiền 5.000.000 đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị V, ông Lê Văn C, bà Võ Thị L được miễn nộp tiền án phí do trên 60 tuổi.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hánh án dân sự.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại trụ sở Tòa án, Ủy ban nhân dân xã (phường), nơi cư trú.
10
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thơ |
Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 14/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 12/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị V về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. 1.1. Bà Nguyễn Thị V được quyền quản lý sử dụng các phần đất: - Diện tích 4.262,7m2 thuộc một phần thửa 20 tờ bản đồ số 09 và một phần thửa 16 tờ bản đồ số 09, có tứ cận: + Đông giáp đường đất dài 49,5m; + Tây giáp đường đất dài 47,01m; + Nam giáp thửa 21, 24, 25; + Bắc đất ông C bà lẽ được tặng cho dài 84,32m. - Công nhận cho bà Nguyễn Thị V được quyền quản lý sử dụng diện tích 968,5m2 thửa 25 tờ bản đồ số 09, có tứ cận: + Đông giáp đường đất; + Tây giáp thửa 24; + Nam giáp thửa 32; + Bắc giáp thửa 20. 1.2. Ông C, bà L có nghĩa vụ trả cho bà V diện tích 4.262,7m2 thuộc thửa 20 tờ bản đồ số 09 và một phần thửa 16 tờ bản đồ số 09 và diện tích 968,5m2 thửa 25 tờ bản đồ số 09. 2. Ghi nhận bà Nguyễn Thị V tự nguyện tặng cho ông Lê Văn C, bà Võ Thị L diện tích 3.294,2m2 thuộc thửa 16 tờ bản đồ số 9 và một phần thửa 20 tờ bản đồ số 9, có tứ cận: + Đông giáp đường đất dài 59,83m và 5,21m + Tây giáp đường đất dài 34,71m; + Nam giáp đất bà V dài 84,32m; + Bắc đường đất dài 50,17m và 3,69m. Kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00444 QSDĐ/450405 ngày 01-10-1996 diện tích 6.945m2 thửa 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22 tờ bản đồ số 3 để cấp lại cho các đương sự theo quyết định của Bản án. 3. Ghi nhận bà Nguyễn Thị V tự nguyện bồi thường giá trị cây trồng trên đất cho ông C bà L là 220.960.000 (hai trăm hai mươi triệu chín trăm sáu mươi nghìn) đồng. Bà Nguyễn Thị V được quyền sử dụng toàn bộ cây trồng trên đất gồm: 02 cây tràm vàng đường kính 10cm – 20cm; 18 cây tràm vàng đường kính 21cm – 30cm; 12 cây tràm vàng đường kính 31cm – 40cm; 05 cây tràm vàng đường kính 41cm – 50cm; 378 cây cao su 17 năm tuổi; 283 cây cao su 02 năm tuổi. 4. Ghi nhận bà Lê Thị N, bà Lê Thị S không tranh chấp với bà Nguyễn Thị V, ông Lê Văn C, bà Võ Thị L.
