Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HSST

Ngày: 13/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Việt Hưng

2. Bà Nguyễn Thị Xuyến

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thành Công, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đại Từ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đai Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS, ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 2 năm 2025, đối với bị cáo:

Bùi Thanh B; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 14 tháng 8 năm 1989; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và C ở: Xóm N, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố: Bùi Quý P, sinh năm 1951 và con bà: Tạ Thị T, sinh năm: 1961; Gia đình có 07 anh, chị em, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình; Chưa có vợ con.

-Tiền án, Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Tại Quyết định số 559/QĐ-UBND ngày 01/11/2010 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc đưa Bùi Thanh B vào Trung tâm Chữa bệnh giáo dục LĐXH huyện Đại Từ, thời hạn 12 tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Địa chỉ: TDP C, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/10/2024, tố công tác Công an huyện Đ phối hợp với công an xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành tuần tra kiểm soát tại khu vực Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện 01 nam thanh niên đang đi bộ trên đường, có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì nam thanh niên chấp hành và khai nhận là Bùi Thanh B, đồng thời tự nguyện giao nộp từ tay trái cho tố công tác 01 gói giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có một gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng; 01 túi ni lông màu trắng bên trong có 01 viên nén màu hồng (B khai là ma túy loại heroine và ma tuý loại hồng phiến của B mua về sử dụng). Tổ công tác đã tiến tập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 gói giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng; 01 túi ni lông màu trắng bên trong có 01 viên nén màu hồng được niêm phong vào phong bì ký hiệu A; 01 điện thoại di động màu xanh nhãn hiệu VIVO bên trong lắp sim số 0365287101 được niêm phong vào phong bì ký hiệu B.

Hồi 18 giờ 30 phút, ngày 14/10/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật, địa điểm của Bùi Thanh B. Kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Hồi 19 giờ 20 phút, ngày 14/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phối hợp cùng Phòng K - Công an tỉnh T tiền hành mở niêm phong cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng và viên nén màu hồng thu giữ của Bùi Thanh B (niêm phong trong phong bì A) có khối lượng:

  • + Chất bột màu trắng có khối lượng là 0,382 gam (niêm phong toàn bộ vào phong bì A1 làm mẫu giám định);
  • + 01 (một) viên nén màu hồng có khối lượng là 0,104 gam (niêm phong vào phong bì A2 làm mẫu giám định).

Tại bản Kết luận giám định số 1112/KL-KTHS, ngày 22/10/2024 của Phòng K, công an tỉnh T kết luận:

  • + Chất bột màu trắng trong phong bì kí hiệu Al gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổi sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng là: 0,382 gam.
  • + Viên nén màu hồng trong phong bì kí hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng là: 0,104 gam.

Tại cơ quan điều tra Bùi Thanh B khai nhận: Bản thân B là người nghiện ma túy. Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 14/10/2024, B đi xe buýt từ xã Y đến thị trấn H, huyện Đ mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, B đến ngã ba tam giác thuộc tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Đ thì xuống xe. Tại đây, B gặp và mua ma tuý của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ nhân thân, tên tuổi, địa chi) 02 gói ma tuý với giá 300.000 đồng. Người đàn ông cầm tiền rồi đưa cho B 01 gói quấn bằng giấy vệ sinh màu trắng bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng - là chất ma túy loại heroine và 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 viên nén màu hồng - là chất ma túy loại hồng phiến. Sau khi mua được ma tuý, B cất giấu gói ma túy trên tay rồi đứng chờ xe buýt đến để về nhà thì bị Tổ công tác công an xã M cùng Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Vật chứng của vụ án gồm: 03 phong bì kí hiệu A1, A2, A3 chứa đối tượng còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Vivo màu xanh thu giữ của B (niêm phong trong bì ký hiệu B). Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.

Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 17/CT-VKSĐT, ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Bùi Thanh B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Phần luận tội tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 17/CT-VKSĐT, ngày 21/01/2025 đối với bị cáo B, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Thanh B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thanh B mức án từ 30 đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 03 bì niêm phong ký hiệu A1, A2, A3 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh.

Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Thanh B tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/10/2024 tại khu vực ngã ba tam giác thuộc tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Bùi Thanh B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,382 gam chất ma túy loại Heroin và 0,104 gam chất ma tuý loại Methamphetamine (Tổng khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ là 0,486 gam) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy trên theo B khai là mua của một người đàn ông không quen biết tại tại khu vực ngã ba tam giác thuộc tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên với số tiền là 300.000₫.

Hành vi tàng trữ trái phép 0,382 gam chất ma túy loại Heroin và 0,104 gam chất ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân của Bùi Thanh B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 17/CT-VKSĐT, ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.

Điều 249 Bộ luật hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:.

  • c) Heroin...,Methamphetamine.....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
  • i, Có 2 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người, làm phát sinh các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bị cáo là đối tượng nghiện đã từng bị UBND huyện Đ đưa vào trung tâm chữa bệnh giáo dục LĐXH huyện Đại Từ nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, không chịu rèn luyện tu dưỡng bản thân cai nghiện để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà vì nhu cầu bản thân tiếp tục đi vào con đường phạm tội.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào quy định tại Điều 52 BLHS.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần có mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

Mức án mà đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì:

“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tuy nhiên xét thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích lợi nhuận, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:

Nguồn gốc số ma túy loại Heroin, Bùi Thanh B khai mua một người đàn ông không quen biết tại khu vực ngã ba tam giác thuộc tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định người đàn ông trên, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.

[7]. Vật chứng vụ án:

Các bì niêm phong ký hiệu A1,A2,A3 bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao mẫu ban đầu là vật cấm lưu thông và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với điện thoại nhãn hiệu Vivo màu xanh thu giữ của B niêm phong trong bì ký hiệu B tại phiên toà bị cáo xác định không dùng vào việc liên lạc ma tuý nên trả lại bị cáo quản lý sử dụng là phù hợp.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Về tội danh và hình phạt:

2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Thanh B 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

  • - Tịch thu tiêu hủy: 03 bì niêm phong ký hiệu A1,A2,A3 chứa đối tượng còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
  • - Trả lại bị cáo: 01 điện thoại ViVo màu xanh trong bì niêm phong lý hiệu B.

(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/01/2025 giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ).

4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Thanh B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TTG Công an tỉnh;
  • - VKSND H.Đai Từ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
  • - Công an H.Đai Từ Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS H.Đai Từ, Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HSST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 12/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 36 thàng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger