Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 12/2025/HNGĐ-ST

Ngày 13 - 02 - 2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Văn Thiện.
  2. Ông Nguyễn Quốc Sửu.

- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Văn Quang, thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hải Yến, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 306/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 268/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2025/QÐST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Giáp Thị Ngọc L, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Ngọc T, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai tiếp theo tại Tòa án chị Giáp Thị Ngọc L trình bày: Chị kết hôn với anh Vũ Ngọc T ngày 20/02/2014, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.

Mâu thuẫn vợ chồng: Phát sinh căng thẳng khoảng tháng 05/2024, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm lối sống, trong làm ăn kinh tế gia đình và nuôi dậy con cái, vợ chồng sống ly thân từ tháng 06/2024. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Toà án giải quyết cho chị và anh T được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Thị Tú A, sinh ngày 02/04/2015 và Vũ Ngọc Tuấn T1, sinh ngày 05/6/2017, hiện con chung đang ở cùng anh T và ông bà nội. Vợ chồng ly hôn, cháu Tú A và cháu Tuấn T1 đều đề nghị chị nuôi dưỡng, chị cũng có nguyện vọng được nuôi dưỡng hai con chung, do anh T không có công việc làm và thu nhập, không đủ điều kiện nuôi con, chị làm công nhân mức thu nhập từ khoảng 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) đến 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng), chị không yêu cầu anh T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ của vợ chồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giao hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Vũ Ngọc T như: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Tại các buổi làm việc cũng như quá trình giải quyết vụ án anh T không đến Tòa án làm việc và không cung cấp lời khai thể hiện quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 17/12/2024 cháu Vũ Thị Tú A và cháu Vũ Ngọc Tuấn T1 đều trình bày: Các cháu là con của bố Vũ Ngọc T và mẹ Giáp Thị Ngọc L, các cháu thấy bố mẹ hay xảy ra mâu thuẫn, hiện các cháu ở với bố, nay bố mẹ ly hôn các cháu đều đề nghị được ở với mẹ

Tại biên bản làm việc ngày 25/11/2024 ông Vũ Ngọc V bố đẻ anh Vũ Ngọc T trình bày: Anh Vũ Ngọc T và chị Giáp Thị Ngọc L kết hôn năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, trong cuộc sống vợ chồng anh T và chị L có mâu thuẫn, tháng 6/2024 chị L đã bỏ về thôn T, xã N sinh sống. Anh T và chị L có 02 con chung là Vũ Thị Tú A và Vũ Ngọc Tuấn T1, hiện đang ở cùng anh T và ông bà. Nay chị L xin ly hôn anh T, ông đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Anh T chung sống cùng vợ chồng ông nên mọi giấy tờ của Toà án vợ chồng ông nhận ông đã giao lại ngay cho anh T.

Qua xác minh đại diện chính quyền địa phương xã N xác định: Anh Vũ Ngọc T, sinh năm 1988, có địa chỉ tại thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, đang chung sống cùng ông Vũ Ngọc V và bà Vũ Thị Q, anh T không có nghề nghiệp và không có thu nhập.

Tại phiên toà chị Giáp Thị Ngọc L vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Vũ Ngọc T được ly hôn. Đề nghị được nuôi dưỡng hai con chung, về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con và tài sản, công nợ chung không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng thủ tục tố tụng; tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự, thủ tục của phiên toà sơ thẩm; nguyên đơn chị Giáp Thị Ngọc L thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định; bị đơn anh Vũ Ngọc T không chấp hành theo đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 - Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Giáp Thị Ngọc L và anh Vũ Ngọc T được ly hôn.

Về con chung: Giao chị Giáp Thị Ngọc L nuôi dưỡng 02 con chung là Vũ Thị Tú A, sinh ngày 02/04/2015 và Vũ Ngọc Tuấn T1, sinh ngày 05/6/2017, về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.

Anh T có quyền thăm nom con sau ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom con của anh T.

Về tài sản, công nợ chung: Không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Giáp Thị Ngọc L phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành giao giấy triệu tập phiên tòa và quyết định xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho bị đơn anh Vũ Ngọc T, nhưng anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Giáp Thị Ngọc L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và giải quyết về nuôi con chung, Tòa án thụ lý vụ án là đúng quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn chị Giáp Thị Ngọc L và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thì có cơ sở xác định như sau:

Chị Giáp Thị Ngọc L kết hôn với anh Vũ Ngọc T ngày 20/02/2014, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng nhau, tình cảm ban đầu hòa thuận, hạnh phúc hiện vợ chồng đã có hai con chung với nhau, do vậy cần xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Mâu thuẫn vợ chồng: Phát sinh tháng 05/2024, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, lối sống không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình và nuôi dậy con cái. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 06/2024, chị L không về chung sống cùng anh T, hai bên không còn quan tâm đến nhau. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng đã hết, cuộc sống chung không thể hàn gắn được, không còn khả năng đoàn tụ, do vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh T được ly hôn.

Xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Giáp Thị Ngọc L với anh Vũ Ngọc T đã xảy ra căng thẳng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau, không có quan hệ tình cảm và không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị L xin ly hôn, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, xử cho chị Giáp Thị Ngọc L và anh Vũ Ngọc T được ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về con chung: Chị Giáp Thị Ngọc L và anh Vũ Ngọc T có 02 con chung là Vũ Thị Tú A, sinh ngày 02/04/2015 và Vũ Ngọc Tuấn T1, sinh ngày 05/6/2017, cháu Tú A và cháu Tuấn T1 đều đề nghị được ở với mẹ, chị L đề nghị được nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy con chung của chị L và anh T là cháu Tú A và cháu Tuấn T1 đều có nguyện vọng được giao cho chị L nuôi dưỡng, chị L nhất trí. Qua xác minh tại địa phương anh T không có công việc, thu nhập ổn định, chị L làm công nhân mức thu nhập bình quân khoảng 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) đến 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng)/tháng. Để đảm bảo quyền và lợi ích của con trẻ trong việc giao trực tiếp người nuôi dưỡng, cần giao cho chị L nuôi dưỡng cháu Tú A và cháu Tuấn T1 là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị L không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản, công nợ chung: Chị Giáp Thị Ngọc L xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có liên quan vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Giáp Thị Ngọc L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Giáp Thị Ngọc L và anh Vũ Ngọc T được ly hôn.

[2] Về con chung: Giao chị Giáp Thị Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng Vũ Thị Tú A, sinh ngày 02/04/2015 và Vũ Ngọc Tuấn T1, sinh ngày 05/6/2017. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Anh Vũ Ngọc T có quyền thăm nom con sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom con của anh T.

[3] Về tài sản; công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Giáp Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0007091 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - UBND xã Ngọc Vân;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Yên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Biên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị L và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, vợ chồng có con chung, quá trình chung sống hai bên phát sinh mâu thuẫn, chị L xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger