|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2025/HSST Ngày: 07/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Doanh và bà Hoàng Thị Thắm
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện VKSND huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị N - Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 24/01/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn D; tên gọi khác: Không, sinh năm 1994. Nơi đăng ký HKTT: Xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mường. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 11/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Hà Văn H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất. Vợ: Bùi Thị N1, sinh năm 1996 (đã ly hôn). Con: Có 01 con sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/11/2024 đến ngày 10/11/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
* Bị hại: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm: 1961
Nơi thường trú: Thôn E, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên
Chỗ ở hiện nay: Số nhà B, phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Xuân K, sinh năm: 1955
Nơi thường trú: Thôn E, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên
Chỗ ở hiện nay: Số nhà B, phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt)
- Anh Hà Minh P, sinh năm: 1998
Nơi thường trú: Xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ
Nơi ở hiện tại: Đường Đ, phường T, quận N, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
* Người làm chứng:
- Ông Vũ Công S, sinh năm: 1974
Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1974
Địa chỉ: Xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Văn D sinh năm 1994, ở xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ làm thuê tại cửa hàng cắt tóc Tony N tại địa chỉ số B phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 06/11/2024, D đến mua hàng tại cửa hàng tạp hóa nhà bà Nguyễn Thị G sinh năm 1961, địa chỉ: Số nhà B phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hưng Yên, thì thấy chồng bà G là ông Nguyễn Xuân K cất tiền bán hàng vào chiếc túi xách bằng vải màu cam, rồi cho vào chiếc túi xách bằng vải màu xanh, để ở ngăn kéo bên dưới tủ kính nhưng không có khóa, nên D đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của vợ chồng bà G. Sau khi mua hàng xong, D đi về cửa hàng cắt tóc, đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, D đội mũ bảo hiểm loại nửa đầu, bịt mặt bằng khẩu trang màu đen và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 19C1-329.28 đi đến cửa hàng nhà bà G. Quan sát thấy trong cửa hàng không có ai, D dựng xe mô tô ở phía trước cửa hàng, rồi dùng tay đẩy cửa kính đi vào bên trong cửa hàng, đi đến gần chiếc tủ mà ông K để tiền, dùng tay lấy chiếc túi xách bằng vải màu xanh bên trong có chiếc túi xách bằng vải màu cam đựng tiền. Dương cầm chiếc túi xách ra phía cửa chính của cửa hàng, thì bị bà G và ông K phát hiện, đuổi theo tri hô “Cướp, cướp”. D bỏ chạy ra đến vỉa hè phía trước cửa hàng thì bị bắt giữa và thu giữ được chiếc túi xách đựng tiền nói trên. Ngay sau đó, bà G đã trình báo với Công an thị trấn V đến lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang đối với Hà Văn D và quản lý vật chứng có liên quan gồm: 01 chiếc túi xách bằng vải màu xanh, kích thước (40 x 32)cm, miệng túi có khóa kéo, phía trên có quai xách, bên trong có 01 chiếc túi xách bằng vải màu cam, kích thước (40 x 34)cm, miệng túi có khóa kéo, phía trên có quai xách, bên trong đựng số tiền 5.490.000 đồng và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn xanh, biển số 19C1-329.28.
Ngày 07/11/2024, Công an thị trấn V đã bàn giao Hà Văn D cùng hồ sơ, vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V để giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày 07/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V khám xét khẩn cấp nơi ở của D tại số B phố V, thị trấn V, huyện V nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã yêu cầu định giá đối với 02 chiếc túi xách mà D đã trộm cắp của vợ chồng bà G. Bản Kết luận định giá tài sản số 88/BKL-ĐGTS ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V xác định: 01 túi xách vải màu xanh kích thước (40 x 32)cm, miệng túi có khóa kéo, không nhãn mác, phía trên có quai xách, đã qua sử dụng là 40.000 đồng; 01 túi xách vải màu cam kích thước (40 x 34)cm, miệng túi có khóa kéo, không nhãn mác, phía trên có quai xách, đã qua sử dụng là 40.000 đồng. Tổng cộng 80.000 đồng.
Ngày 04/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả lại 02 chiếc túi xách và số tiền 5.490.000 đồng nêu trên cho bà Nguyễn Thị G.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 19C1-329.28, được xác định là của em trai D là anh Hà Minh P, sinh năm 1998, HKTT: Xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Kết quả tra cứu không có trong dữ liệu của xe vật chứng. Anh P cho D mượn xe để làm phương tiện đi lại, không biết D sử dụng xe vào việc phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại chiếc xe trên cho anh P.
Vật chứng, đồ vật đã thu giữ chưa xử lý: Không có
Quá trình điều tra, Hà Văn D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKSVG ngày 20/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang đã truy tố bị cáo Hà Văn Dươngvề tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Bị hại bà Nguyễn Thị G xác nhận đã nhận lại tài sản là là 01 chiếc túi xách bằng vải màu xanh dương, kích thước (40x32)cm, miệng túi có khóa kéo, phía trên có quai xách; 01 chiếc túi xách bằng vải màu cam kích thước (40 x 34)cm, miệng túi có khóa kéo, phía trên có quai xách và số tiền 5.490.000 đồng, không yêu cầu về trách nhiệm dân sự. Bà G đề nghị HĐXX cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hà Minh P xác nhận đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 19C1-329.28 và không yêu cầu về trách nhiệm dân sự.
- - Đại diện VKSND huyện Văn Giang giữ nguyên quan điểm đã truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Hà Văn D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn D từ 07 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hà Văn D cho Ủy ban nhân dân xã N2 bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không phải giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
- - Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đúng quy định của pháp luật.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt họ. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 292; Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục xét xử vụ án.
[2]. Về hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với đơn trình báo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/11/2024, tại cửa hàng tạp hóa của vợ chồng bà Nguyễn Thị G ở số nhà B phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Hà Văn D đã lén lút chiếm đoạt của vợ chồng bà G 01 chiếc túi xách bằng vải màu xanh, bên trong có 01 chiếc túi xách bằng vải màu cam đựng số tiền 5.490.000 đồng, thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. VKSND huyện Văn Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật theo bản cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân là khách thể được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân.
[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại. Bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận. Bị hại bà Nguyễn Thị G xin cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, nên bị cáo được hưởng các tình thết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- HĐXX thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không phải giải quyết do:
- - Bị hại bà Nguyễn Thị G đã nhận lại tài sản là 01 chiếc túi xách bằng vải màu xanh dương, kích thước (40x32)cm, miệng túi có khóa kéo, phía trên có quai xách; 01 chiếc túi xách bằng vải màu cam kích thước (40 x 34)cm, miệng túi có khóa kéo, phía trên có quai xách và số tiền 5.490.000 đồng.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hà Minh P đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện V trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 19C1-329.28.
[7 ]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hà Văn D.
- - Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 điều 292; Khoản 1 điều 293; Điều 299; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
3. Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Văn D 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 04 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hà Văn D cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không phải giải quyết.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Hà Văn D phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hà Văn D và bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Lâm |
Bản án số 12/2025/HSST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 12/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Văn D phạm tội trộm cắp tài sản
