Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày: 23-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Hữu Phước;
  2. Bà Nguyễn Thị Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quế Chi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Cao Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 262/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Phan Thành K, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1999 tại Bến Tre; nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp T, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông: Phan Văn C, sinh năm 1971 và con bà: Võ Thị Bích T, sinh năm 1968; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không.
  2. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024 đến nay.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

  3. Phan Trung K1, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2004 tại Quảng Trị; nơi đăng ký thường trú: 773/30 đường N, ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 773/30 đường N, ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: học sinh, sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông: Phan Văn P, sinh năm 1971 và con bà: Trần Thị L, sinh năm 1985; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2024 đến nay.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

  5. Trịnh Minh Đ, sinh ngày 05 tháng 9 năm 2004 tại Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: thôn C, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: học sinh, sinh viên; trình độ học vấn:

12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông: Trịnh Văn H, sinh năm 1977 và con bà: Trương Thị Bích Q, sinh năm 1979; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

  1. Đỗ Khang K2, sinh ngày 22 tháng 11 năm 2004 tại Quảng Ngãi; nơi đăng ký thường trú: B L, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: B L, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông: không rõ và con bà: Đỗ Thị Kim Y, sinh năm 1982; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến nay.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

  3. Trần Thiên B, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2004 tại Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: thôn B, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông: Trần Văn K3, sinh năm 1976 và con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024 đến nay.

    (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phan Văn T2, sinh năm 1973; địa chỉ: Số F đường E, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
  2. Ông Lê Tấn Kim L1, sinh năm 2003; địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Thiên B: Ông Nguyễn Trung T3 - Luật sư thuộc Công ty L2, Đoàn Luật sư tỉnh B (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 10 phút ngày 31/3/2024, Tổ công tác 363 Công an quận T đến trước địa chỉ số A Đ, Phường A, quận T phát hiện Đỗ Khang K2, Trịnh Minh Đ và Trần Thiên B đang chở nhau trên xe mô tô biển số 70B1-845.17 có dấu hiệu nghi vấn tiến hành test nhanh phát hiện cả 03 bị cáo đều dương tính với ma túy loại cần sa.

Tại Cơ quan Công an, K2, Đ và B khai nhận cùng góp tiền lại với nhau mua cần sa của Phan Trung K1 có M “K” là sinh viên của trường cao đẳng L3 (bạn học của K2 và Đ) mang về phòng trọ số 09 của K2 tại địa chỉ số B N, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để cả 03 sử dụng chung, cụ thể:

- Ngày 21/3/2024, Đ mua 02 gram cần sa của Phan Trung K1 với giá 300.000 đồng. Trong đó, B góp 100.000 đồng, còn K2 cho Đ và B ở nhờ không tốn phí nên K2 không cần phải góp tiền mua cần sa. Sau đó cả 03 bị cáo sử dụng cần sa tại phòng của K2.

- Ngày 25/03/2024, B mua 01 gram cần sa của Phan Trung K1 với giá 150.000 đồng. Đ, K2, B mỗi người góp 50.000 đồng nhưng Đ và K2 chưa đưa cho B vì sau này sẽ trừ vào tiền ăn uống, cả 03 bị cáo cũng tổ chức hút cần sa tại phòng của K2.

- Khám xét khẩn cấp chỗ của K2 tại phòng trọ số 09 địa chỉ: B N, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, thu giữ:

  • 01 (một) vỏ chai nhựa hiệu Sting, cao khoảng 25cm, đường kính đáy 3cm, miệng chai 1cm;
  • 01 (một) nắp chai màu xanh đục lỗ tròn ở giữa, đường kính 1cm;
  • 01 (một) cái hộp quẹt màu đỏ, dài 4cm;
  • 01 (một) mảnh giấy bạc.

Những đồ vật trên, Trần Thiên B khai nhận là dụng cụ sử dụng ma túy do B tự chế để phục vụ việc tổ chức sử dụng cần sa.

Qua truy xét: Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 01/4/2024, tại trước địa chỉ số: 183-185-187 N, P, quận T, Công an P1, quận T phát hiện bắt quả tang Phan Trung K1 đang điều khiển xe Honda Air Blade, biển số: 59N1-888.47 chở theo Nguyễn Minh Q1 mang theo cần sa với mục đích để bán.

Thu giữ:

  • 02 (hai) gói nylon, bên trong có chứa hoa, lá khô là ma túy (cần sa).

Theo bản Kết luận giám định số 4315/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K4 Công an Thành phố H kết luận: Gói hoa, lá cành khô trong 02 gói nylon (Ký hiệu mẫu m1) có tổng khối khối lượng 4,9798 gram, là Cần sa.

  • 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đen, vàng đồng biển số: 59N1-888.47, số khung: 4618EZ323886, số máy:JF46E7023911, đã qua sử dụng.

Khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Phan Trung K1, địa chỉ: 1 Ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, tạm giữ:

  • 01 (một) hộp kim loại kích thước khoảng 5 x 8,5cm, bên trong có chứa hoa, lá khô nghi vấn là ma túy (cần sa).

Theo bản Kết luận giám định số 4315/KL-KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K4 Công an Thành phố H kết luận: H1, lá cành khô trong trong 01 hộp kim loại (ký hiệu mẫu m2) có khối lượng là 55,37 gram, là Cần sa.

  • 01 (một) cân điện tử.

Tại Cơ quan Công an Phan Trung K1 khai nhận: Ngày 30/3/2024, K1 liên hệ với K qua T4 đặt mua 60 gram cần sa để bán cho khách nhưng chưa trả tiền do K cũng chưa báo giá. Nếu có khách mua thì K báo giá cho K1 bán lại cho khách. Khi nào bán hết, K1 mới trả tiền cho K. Giá cần sa tuỳ theo từng đợt nhưng trung bình khoảng 80.000 đồng/gram, K1 về bán lại cho khách: 150.000 đồng/gram. K1 bắt đầu mua ma túy là cần sa của K để bán lại từ khoảng tháng 10/2022, cứ khoảng 17-18 ngày, K1 liên hệ với K mua ma túy một lần, một lần mua từ 20 gram đến 50 gram với giá khoảng từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng bán lại cho khách hàng trên mạng. Tổng số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép ma túy khoảng 30.000.000 đồng. K1 lấy cần sa trực tiếp tại nhà K hoặc K đến giao cho K1 tại trước cổng trường Cao đẳng L3 trên đường H.

Về phương thức thanh toán tiền mua ma túy giữa K1 và K có cả trả tiền mặt và thanh toán qua tài khoản ngân hàng (dùng tài khoản ngân hàng S3 số [...] của K1 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của K số [...] Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q2).

K1 đã bán cần sa cho K2 02 lần với tổng số tiền: 450.000 đồng, nhận tiền bằng hình thức chuyển khoản, lời khai của K1 phù hợp với lời khai của K2, Đ và B.

Đối với Nguyễn Minh Q1 là bạn ngoài xã hội với K1, Q1 không tham gia bán cần sa với K1. Ngày 01/4/2024, K1 rủ Q1 đi chung để trả xe thì bị công an kiểm tra bắt giữ. Q1 không liên quan gì về việc K1 mua bán cần sa, thỉnh thoảng K1 có bán lại ít cần sa cho Q1 sử dụng. Lời khai của Phan Trung K1 phù hợp với lời khai Nguyễn Minh Q1.

Tiếp tục truy xét: Vào lúc 10 giờ 45 phút ngày 02/4/2024, tại trước địa chỉ F Đ, Phường A, quận T, Công an Phuờng 14, quận T bắt giữ được Phan Thành K đang điều khiển xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển số 71B3-507.27. Qua xét nghiệm K dương tính với ma túy.

Khám xét nơi ở của K không thu giữ được ma túy.

Tại cơ quan Công an, K khai nhận: Vào khoảng 19 giờ, ngày 30/3/2024, tại phòng trọ 102 của K, địa chỉ số: 2 N, Phường D, quận T, K1 đến mua trực tiếp của K 60 gram cần sa nhưng chưa trả tiền. Đến ngày 01/4/2024, K1 cân lại thì thấy chỉ còn là 59,2 gram nên có chụp ảnh gửi qua Telegram cho K, hỏi về sự hao hụt. K1 đã mua cần sa của K nhiều lần, cụ thể: Ngày 25/02/2024, K1 mua 950.000 đồng cần sa; Ngày 03/3/2024, K1 mua 1.500.000 đồng cần sa; Ngày 08/3/2024 K1 mua 1.990.000 đồng cần sa và đều thực hiện chuyển trả tiền vào tài khoản 331166868 của K; Ngày 14/3/2024, K1 mua 3.800.000 đồng cần sa nhưng chưa trả tiền. Nguồn gốc số cần sa K bán cho K1, được mua từ tài khoản ứng dụng Telegram tên “John Wick”, tên thường gọi Thạch S (không rõ số điện thoại và lai lịch). K mua nhiều lần và nhận hàng qua hình thức giao hàng công nghệ và thanh toán chuyển khoản qua tài khoản 0582189980 tên Nguyen Thanh S1 tại Ngân hàng S4. Số cần sa có khối lượng là 55,37 gram được chứa 01 (một) hộp kim loại (T5 tại nhà K1 khi khám xét) là do K bán cho Phan Trung K1 để K1 bán lại cho khách. Phan Trung K1 khai phù hợp với lời khai của Phan Thành K.

- Trích xuất dữ liệu điện thoại Iphone 7 Plus của Đỗ Khang K2 có nội dung tin nhắn mua bán cần sa với Phan Trung K1.

- Trích xuất dữ liệu điện thoại Iphone 11 của Trần Thiên B có đầy đủ nội dung tin nhắn chuyển khoản trả tiền mua cần sa cho Phan Trung K1 vào ngày 25/3/2024.

- Trích xuất điện thoại Samsung galaxy và Iphone 6 của Phan Trung K1, phát hiện: Có tin nhắn mua bán ma túy với tài khoản M "Phan Thành K” và T4 "Bobber Big boy" của đối tượng Phan Thành K;

- Trích xuất điện thoại Iphone 11 của Phan Thành K, phát hiện: Tài khoản Messenger "Phan Thành K” và T4 “Bobber Big boy" do K sử dụng có nhận tin nhắn từ T4 "Bobber Big boy" của Phan Trung K1 với nội dung: Gửi tin nhắn hình ảnh cân khối lượng Cần sa 59,2 gram vào ngày 01/4/2024. Đồng thời, có nhiều tin nhắn trao đổi mua bán, chuyển khoản thanh toán tiền mua cần sa với Phan Trung K1.

- Sao kê tài khoản Ngân hàng của Phan Trung K1 có nhận tiền mua cần sa của nhóm Đỗ Khang K2, Trịnh Minh Đ, Trần Thiên B.

- Sao kê tài khoản của Phan Thành K có đầy đủ thông tin Phan Trung K1 chuyển khoản thanh toán tiền mua cần sa.

Vật chứng thu giữ:

  • H1, lá cành khô trong 02 gói nylon (Ký hiệu mẫu m1) có tổng khối khối lượng 4,9798g, là Cần sa.
  • H1, lá cành khô trong trong 01 hộp kim loại (ký hiệu mẫu m2) có khối lượng là 55,37g, là Cần sa.

(Là mẫu vật còn lại được niêm phong sau khi giám định có chữ ký của Giám định viên Lê Thị H2)

* Thu giữ của Đỗ Khang K2, Trịnh Minh Đ, Trần Thiên B:

  • 01 (một) vỏ chai nhựa hiệu Sting, cao khoảng 25cm, đường kính đáy 3cm, miệng chai 1cm;
  • 01 (một) nắp chai màu xanh đục lỗ tròn ở giữa, đường kính 1cm;
  • 01 (một) cái hộp quẹt màu đỏ, dài 4cm;
  • 01 (một) mảnh giấy bạc.
  • 01 xe gắn máy 02 bánh biển số: 70B1-845.17 của bị cáo Trịnh Minh Đ mua lại của Phạm Đức T6, sinh năm: 2004, Nơi cư ngụ: 91 B, phường A, quận T với giá 15.000.000 đồng nhưng chưa sang tên.
  • 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus của bị cáo Đỗ Khang K2 (dùng trong việc phạm tội)
  • 01 điện thoại di động Iphone 11 của bị cáo Trần Thiên B (dùng trong việc phạm tội)

* Thu giữ của bị cáo Phan Thành K:

  • 01 điện thoại di động Iphone 11 màu đen (dùng trong việc phạm tội)
  • 01 xe gắn máy, biển số: 71B3-507.27 do K đứng tên chủ sở hữu (không dùng trong việc phạm tội).

* Thu giữ của bị cáo Phan Trung K1:

  • 01 điện thoại samsung galaxy (dùng trong việc phạm tội)
  • 01 điện thoại Iphone 6 (dùng trong việc phạm tội)
  • 01 xe gắn máy, biển số: 59N1-888.47. Do Phan Văn T2 (Là chú ruột của K1) đứng tên chủ sở hữu. T2 cho K1 mượn xe để đi học T2 không biết K1 sử dụng xe gắn máy trên để đi mua bán cần sa.

Tại bản cáo trạng số 254/CT-VKS-TB ngày 21 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố các bị cáo Phan Thành K, Phan Trung K1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố các bị cáo Trịnh Minh Đ, Đỗ Khang K2, Trần Thiên B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát tại phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội của bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị xử phạt:

Bị cáo Phan Thành K từ 09 đến 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Bị cáo Phan Trung K1 từ 08 đến 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Các bị cáo Trịnh Minh Đ, Đỗ Khang K2, Trần Thiên B cùng mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Thiên B đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân tốt của bị cáo B như tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, bị cáo là lao động chính trong gia đình do có mẹ bị bệnh ung thu và em gái bị bệnh tâm thần để xử phạt bị cáo thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án dành cho các bị cáo, để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với Bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận:

Các bị cáo Đỗ Khang K2, Trịnh Minh Đ và Trần Thiên B có hành vi cùng góp tiền mua cần sa của Phan Trung K1 mang về phòng trọ số 09 của K2, tại địa chỉ số: B N, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để cả 03 bị cáo sử dụng chung 02 lần vào các ngày 21/3/2024 và 25/3/2024. Do đó hành vi của các bị cáo K2, Đ và B đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo Phan Trung K1 có hành vi bán trái phép chất ma tuý loại cần sa 02 lần cho Trịnh Minh Đ và Trần Thiên B để sử dụng và bị cáo Phan Thành K có hành vi bán trái phép chất ma tuý loại cần sa 05 lần vào các ngày 25/02/2024, 03/3/2024, 08/3/2024, 14/3/2024 và 30/3/2024 cho Phan Trung K1 để K1 bán lại cho người khác. Hành vi của K và K1 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, mà còn tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn liên quan đến ma túy trong cộng đồng và là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo đều đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc cất mua bán, sử dụng chất ma tuý để kiếm lời là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng chỉ vì bản chất lười lao động, tham lợi mà bị cáo đã bất chấp, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Đối với Nguyễn Minh Q1 không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của Phan Trung K1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã tiến hành bàn giao Nguyễn Minh Q1 cho Công an Phường 14 lập hồ sơ xử lý về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.

Đối với tài khoản 0582189980, qua xác minh do Nguyễn Thanh S2, sinh ngày 21/9/1992, hộ khẩu thường trú: Tổ G, C, thành phố L, tỉnh Lào Cai đứng tên, hiện nay S2 không có mặt tại địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định truy tìm đối với S2.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Việc đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo để đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 khi xét xử các bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hội đồng xét xử còn xem xét tình tiết: bị cáo Phan Thành K có ông nội là Phan Trí B1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì và bị cáo Trần Thiên B có gia đình thuộc diện hộ cận nghèo là các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về vật chứng:

- Đối với 01 hộp kim loại còn nguyên vẹn niêm phong (ký hiệu mẫu M2), bên trong chứa 55,37g cần sa; 01 hộp kim loại còn nguyên vẹn niêm phong (ký hiệu mẫu M1), bên trong chứa 02 gói ny lon là 4,9798g cần sa: Xét đây là tang vật của vụ án, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 thu giữ của Phan Trung K1, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 thu giữ của Phan Thành K, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus thu giữ của Đỗ Khang K2 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 của Trần Thiên B: Xét đây công cụ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo dùng vào việc nhắn tin, trao đổi, chuyển khoản tiền liên quan đến việc mua bán cần sa nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 xe gắn máy 02 bánh biển số: 59N1-888.47 thu giữ của Phan Trung K1. Qua điều tra xác định chiếc xe do Phan Văn T2 (là chú ruột của K1) đứng tên chủ sở hữu. Ông T2 cho K1 mượn xe để đi học, ông T2 không biết K1 sử dụng xe gắn máy trên để đi mua bán cần sa.

Xét chiếc xe là tang vật của vụ án, được bị cáo Phan Trung K1 sử dụng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, chủ sở hữu chiếc xe là ông Phan Văn T2 không có lỗi trong việc để cho bị cáo K1 sử dụng vào việc thực hiện tội phạm nên Hội đồng xét xử quyết định trả chiếc xe lại cho ông Phan Văn T2.

- Đối với 01 xe gắn máy 02 bánh biển số 70B1-845.17 thu giữ của bị cáo Phan Thành K. Quá trình điều tra xác định chiếc xe do K đứng tên chủ sở hữu. Xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo K, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả chiếc xe cho bị cáo.

- Đối với 01 xe gắn máy 02 bánh biển số 70B1-845.17 thu giữ của Trịnh Minh Đ. Qua điều tra xác định chiếc xe do Lê Tấn Kim L1 đứng tên chủ sở hữu. Bị cáo Đ khai mua lại chiếc xe trên từ Phạm Đức T6, sinh năm 2004, cư ngụ tại I B, Phường A, quận T với giá 15.000.000 đồng nhưng chưa sang tên.

Qua làm việc, Phạm Đức T6 khai chiếc xe do Nguyễn Ngô Hoàng A, sinh năm 2004 mua vào ngày 10/01/2024 tại Cửa hàng H3 ở huyện C. Nguyễn Ngô Hoàng A khai sau khi mua xe, cửa hàng có làm giấy mua bán xe kèm bản photo Giấy đăng ký xe cho Hoàng A. Bốn ngày sau Hoàng A bán lại chiếc xe cho T6. Việc mua bán xe giữa các bên là giao dịch miệng, không có giấy tờ gì. Sau khi giao dịch, Hoàng A chỉ giao cho T6 giấy mua bán xe của cửa hàng và bản photo Giấy chứng nhận đăng ký xe.

Xét đây là tang vật của vụ án, được bị cáo Trịnh Minh Đ sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc xe có nguồn gốc không rõ ràng, các bên không ai có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của mình đối với xe nên cần giao cơ quan thi hành án dân sự thông báo tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trong thời hạn nhất định, hết thời hạn mà không có ai liên hệ nhận chủ sở hữu xe thì lập thủ tục tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 quẹt gas màu đỏ; 01 chai nhựa hiệu Sting; 01 giấy bạc; 01 nắp chai nhựa màu xanh đục lỗ tròn ở giữa, đường kính 1cm: Qua điều tra, Trần Thiên B khai nhận là dụng cụ sử dụng ma túy do B tự chế để phục vụ việc tổ chức sử dụng cần sa. Xét đây là tang vật bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với số tiền 30.000.000 đồng bị cáo Phan Trung K1 khai có được do mua bán ma túy. Xét đây là số tiền thu lợi bất chính bị cáo do thực hiện hành vi phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo nộp lại để sung công quỹ.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố các bị cáo Phan Thành K, Phan Trung K1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo: Phan Thành K 09 (chín) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2024.

Xử phạt bị cáo: Phan Trung K1 08 (tám) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024.

[2] Tuyên bố các bị cáo Trịnh Minh Đ, Đỗ Khang K2, Trần Thiên B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo: Trịnh Minh Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2024.

Xử phạt bị cáo: Đỗ Khang K2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2024.

Xử phạt bị cáo: Trần Thiên B 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2024.

[3] Về vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 hộp kim loại còn nguyên vẹn niêm phong (ký hiệu mẫu M2), bên trong chứa 55,37g cần sa; 01 hộp kim loại còn nguyên vẹn niêm phong (ký hiệu mẫu M1), bên trong chứa 02 gói ny lon là 4,9798g cần sa; 01 quẹt gas màu đỏ; 01 chai nhựa hiệu Sting; 01 giấy bạc; 01 nắp chai nhựa màu xanh đục lỗ tròn ở giữa, đường kính 1cm.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 thu giữ của Phan Trung K1, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 thu giữ của Phan Thành K, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus thu giữ của Đỗ Khang K2 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 của Trần Thiên B

Trả lại các tài sản sau: 01 xe gắn máy 02 bánh biển số: 59N1-888.47 cho ông Phan Văn T2, 01 xe gắn máy 02 bánh biển số 70B1-845.17 cho bị cáo Phan Thành K.

Giao Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình đăng báo tìm chủ sở hữu của 01 xe gắn máy 02 bánh biển số 71B3-507.27 trong thời hạn 03 (ba) tháng. Hết thời hạn này, nếu không có ai đến nhận chủ sở hữu thì lập thủ tục tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 44/BB/2025 ngày 05/12/2024 giữa Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).

Buộc bị cáo Phan Trung K1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

[4] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, NLQ;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCSCA Tp.Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự (mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Mua bán và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 15 giờ 10 phút ngày 31/3/2024, Tổ công tác 363 Công an quận T đến trước địa chỉ số A Đ, Phường A, quận T phát hiện Đỗ Khang K2, Trịnh Minh Đ và Trần Thiên B đang chở nhau trên xe mô tô biển số 70B1-845.17 có dấu hiệu nghi vấn tiến hành test nhanh phát hiện cả 03 bị cáo đều dương tính với ma túy loại cần sa.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger