TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 60/2025/DS-ST
Ngày: 26/3/2025
V/v tranh chấp: “Hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhịn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Bùi Văn Màu
- Bà: Âu Thị Ngọc Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Công Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Quốc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử công khai vụ án thụ lý số 12/2025/TLST-DS ngày 07/01/2025 về việc tranh chấp “Hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐXXST-DS ngày 27/02/2025 giữa các đương sự:
➤ Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Y, sinh năm 1960.
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, Tiền Giang.
➤ Bị đơn: Anh Lê Chí T, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, Tiền Giang.
(Bà Y, anh T có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 26/12/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thị Y trình bày:
- Anh Lê Chí T là tay em có tham gia chơi nhiều dây hụi do bà làm đầu thảo và đã hốt hụi còn thiếu tiền hụi chết chưa đóng cụ thể:
- Dây hụi 2.000.000 đồng: Khui ngày 15/7al/2023, có 23 phần, mỗi tháng khui lần, anh T tham gia 01 phần. T hốt lần thứ 4 ngày 15/10al/2023, được số tiền là 35.600.000 đồng.
Sau khi hốt T đóng hụi chết đến tháng 9al//2024 và ngưng hụi từ tháng 10al/2024 đến nay, tính đến mãn hụi là 08 kỳ x 02 triệu/kỳ thành tiền là 16 triệu đồng (đã qua 04 kỳ khui chưa đóng số tiền là 08 triệu đồng và còn 04 kỳ chưa đến ngày khui số tiền là 08 triệu đồng).
- Dây hụi 2.000.000 đồng: Khui ngày 09/6al/2024 ( 01), có 17 phần, mỗi tháng khui lần, anh T tham gia 01 phần. T hốt lần thứ 2 ngày 09/7al/2023, được số tiền là 25.200.000 đồng sau khi trừ đầu thảo.
Sau khi hốt T đóng hụi chết 02 kỳ đến tháng 9al//2024 và ngưng hụi từ tháng 10al/2024 đến nay. Tính đến mãn hụi là 13 kỳ x 02 triệu/kỳ thành tiền là 26 triệu đồng ( đã qua 04 kỳ khui chưa đóng số tiền là 08 triệu đồng và còn 09 kỳ chưa đến ngày khui số tiền là 18 triệu đồng).
- Dây hụi 2.000.000 đồng: Khui ngày 09/6al/2024 ( 02), có 17 phần, mỗi tháng khui lần, anh T tham gia 01 phần. T hốt lần thứ 2 ngày 09/7al/2023, được số tiền là 25.200.000 đồng sau khi trừ đầu thảo.
Sau khi hốt T đóng hụi chết 02 kỳ đến tháng 9al//2024 và ngưng hụi từ tháng 10al/2024 đến nay. Tính đến mãn hụi là 13 kỳ x 02 triệu/kỳ thành tiền là 26 triệu đồng ( đã qua 04 kỳ khui chưa đóng số tiền là 08 triệu đồng và còn 09 kỳ chưa đến ngày khui số tiền là 18 triệu đồng).
- Tổng cộng anh T còn thiếu tiền hụi chết của 03 dây hụi là 68 triệu đồng ( đã qua kỳ khui của 03 dây mỗi dây 04 kỳ là 12 kỳ x 02 triệu chưa đóng số tiền là 24 triệu đồng và còn 22 kỳ chưa đến ngày khui số tiền là 44 triệu đồng).
Nay yêu cầu anh T trả ngay số tiền 24 triệu đồng. Còn lại số tiền 44 triệu đồng trả theo kỳ khui hụi mỗi tháng 03 phần x 02 triệu thành tiền là 06 triệu đồng.
* Theo Tờ tường trình đề ngày 20/01/2025 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Chí T trình bày:
- Anh thừa nhận có tham gia chơi 03 dây hụi 02 triệu đồng khui các ngày 15/7al/2023 và 02 dây hụi khui cùng 09/6al/2024, do bà Y làm đầu thảo. Tuy nhiên anh mới hốt 02 dây gồm: Dây hụi khui ngày 15/7al/2023 và 01 dây hụi khui 09/6al/2024 ( 01), còn 01 dây hụi khui 09/6al/2024 (2) anh chưa hốt .
Sau khi hốt anh đóng hụi chết đầy đủ đến tháng 10al/2024, đến tháng 11al/2024 do bà Y nói anh đã hốt hết 03 dây hụi nên hai bên cãi nhau và anh mới ngưng đóng hụi của 02 dây đã hốt từ tháng 11al/2024 đến nay cụ thể:
- Dây hụi 02 triệu khui ngày 15/7al/2023: Anh hốt lần thứ 13. Sau khi hốt đóng hụi chết đến tháng 10al/2024, ngưng từ tháng 11al/2024 đến nay, tính đến mãn hụi còn 07 kỳ hụi chết ( tính đến tháng 02al/2025 đã qua 04 kỳ khui 08 triệu chưa đóng, còn lại 03 kỳ 06 triệu chưa tới khui).
- Dây hụi 02 triệu khui ngày 09/6al/2024 ( 01): Anh hốt lần thứ 2 ngày 09/7al/2024. Sau khi hốt anh đóng hụi chết được 03 kỳ đến tháng 10al/2024. Ngưng đống từ tháng 11al/2024 đến nay, tính đến tháng 02al/2025 đã qua 04 kỳ khui số tiền là 08 triệu đồng, nhưng anh đã đóng kỳ tháng 02al/2025, còn thiếu lại số tiền là 06 triệu đồng,
- Dây hụi 02 triệu khui ngày 09/6al/2024 ( 02): Hụi 02 triệu, có 17 phần, anh tham gia 01 phần. Dây hụi này anh chưa hốt, đã đóng hụi sống được đến tháng 10al/2024 và ngưng từ tháng 11al/2024 đến nay, do bà y nói anh đã hốt nên hai bên dẫn đến cự cãi và bà Y không cho anh đóng nữa.
Nay anh đồng ý trả cho bà Y số tiền hụi chết đã qua kỳ khui cua 02 dây hụi đã hốt tính đến tháng 02al/2025 là 07 kỳ x 02 triệu đồng/ kỳ thành tiền 14 triệu đồng (trong đó dây hụi khui ngày 15/7al/2023 là 04 kỳ x 02 triệu là 08 triệu đồng và dây hụi khui ngày 09/6al/2024 (01) là 03 kỳ x 02 triệu là 06 triệu đồng. Còn lại Dây hụi khui ngày 09/6al/2024 (02) anh chưa hốt nên không đồng ý đóng. Riêng các phần hụi chết còn lại anh không đồng ý trả do chưa tới kỳ khui.
* Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn vẫn giữ ý kiến và yêu cầu như trên.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án dân sự:
Căn cứ các chứng cứ bà Y cung cấp như Giấy cho mượn tiền ghi vào các ngày 25/7/2024 AL mượn 20 triệu; 19/7/2024 mượn 30 triệu; 20/10/2023 mượn 45.150.000 đồng, các đương sự thống nhất khi hốt hụi thì số tiền hụi chết phải đóng sẽ ghi là giấy mượn tiền nhưng giấy mượn tiền ghi ngày 25/7/2024 AL số tiền 20 triệu là anh T hốt hụi dây thứ 2 hụi mở ngày 09/6/2024 là không phù hợp về thời gian khui hụi cũng như số tiền còn nợ hụi chết. Anh T xác định giấy mượn tiền này là của dây hụi mở ngày 15/7/2023 là phù hợp.
Đồng thời giấy ghi hụi bà Y cung cấp ghi hụi ngày 09/6/2024, trong đó thể hiện nội dung T 2 xưa hốt ngày 09/7/2024 và đồng thời S cũng hốt cùng ngày 09/7/2024 là không phù hợp vì mỗi kỳ khui hụi chỉ có 1 hụi viên được hốt hụi không thể anh T và S cùng hốt hụi chung 1 kỳ khui hụi được.
Ngoài ra, bà Y không có chứng cứ nào khác để chứng minh việc anh T còn nợ hụi chết chưa đóng đến tháng 9/2024 dây hụi thứ 1 khui ngày 09/6/2024 và cũng không có chứng cứ chứng minh dây hụi thứ 2 khui ngày 09/6/2024 anh T đã hốt và còn nợ hụi chết. Do vậy yêu cầu của bà Y là không có căn cứ chấp nhận.
Tại tòa, bà Y và anh T thống nhất vào tháng 02/2025 thì anh T đã có đóng 01 kỳ hụi chết dây thứ 1 khui ngày 09/6/2024 là 2.000.000 đồng. Do đó, trừ kỳ hụi này ra. Tính đến thời điểm hiện tại anh T còn nợ hụi chết như sau:
+ Dây hụi mở ngày 15/7/2023 các đương sự thống nhất anh T còn nợ 4 kỳ hụi chết là 8.000.000đ tính đến tháng 02/2025, anh T thống nhất trả bà Y.
+ Dây hụi thứ 1 mở ngày 09/6/2024 anh T đã hốt kỳ thứ 2, đóng hụi đến tháng 10/2024, còn nợ 3 kỳ hụi chết là 6 triệu đồng.
+ Dây hụi thứ 2 mở ngày 09/6/2024 có căn cứ xác định anh T chưa hốt hụi dây này.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 280; 417 Bộ luật Dân sự, Điều 23 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường, xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Y: Buộc anh T trả cho bà Y số tiền 14.000.000 đồng, gồm:
+ Dây hụi mở ngày 15/7/2023 các đương sự thống nhất anh T còn nợ 4 kỳ hụi chết là 8.000.000 đồng tính đến tháng 02/2025 và D hụi 1 mở ngày 09/6/2024 là 6.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn kiện tranh chấp về giao dịch chơi hụi, đây là giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện C, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn kiện yêu cầu bị đơn trả tiền hụi, do vậy xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là tranh chấp về Hụi theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
- Bà Đỗ Thị Y là đầu thảo hụi, anh Lê Chí T là tay em có tham gia chơi 03 dây hụi 02 triệu đồng do bà Y làm đầu thảo các dây hụi cụ thể: Dây hụi khui ngày 15/7al/2023; dây hụi khui ngày 09/6al/2024 (01) và Dây hụi khui ngày 09/6al/2024 (02).
Do vậy có căn cứ xác định quan hệ tranh chấp hụi giữa bà Y với anh T thực tế phát sinh theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự.
[2.1]. Dây hụi 02 triệu khui ngày 15/7al/2023 tại phiên tòa bà Y và anh T thống nhất tính đến mãn hụi là 07 kỳ số tiền là 14 triệu đồng ( trong đó tính đến tháng 2al/2025 anh T còn thiếu 04 kỳ chưa đóng số tiền là 08 triệu đồng; còn lại 03 kỳ chưa tới kỳ khui), anh T đồng ý trả số tiền là 08 triệu đồng ( của 04 kỳ đã khui chưa đóng), hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.2]. Dây hụi 02 triệu khui ngày 09/6al/2024 ( 01) hai bên thống nhất anh T hốt lần thứ 02. Bà Y khai sau khi hốt anh T khai đã đóng hụi chết đến tháng 9al/2025, tính đến tháng 02al/2025 còn thiếu 04 kỳ số tiền là 08 triệu đồng. Còn anh T khai đã đóng hụi chết đến tháng 10al/2025 và ngưng từ tháng 11al/2025, tính đến tháng 02al/2025 còn thiếu 04 kỳ số tiền là 08 triệu đồng, nhưng kỳ tháng 02al/2025 anh đã đóng xong cho bà Y, nên anh chỉ còn thiếu 03 kỳ số tiền là 06 triệu đồng.
Xét thấy, theo lời khai bà Y và anh T đều thống nhất từ khi ngưng hụi đến tháng 02al/2025 anh T thiếu 04 kỳ khui hụi chưa đóng, anh T ngưng đóng hụi cùng tháng với dây hụi khui ngày 15/7al/2023 và dây hụi này các bên thống nhất anh T còn thiếu tính đến tháng 02al/2025 đã qua 04 kỳ đã khui chưa đóng, như vậy dây hụi này cũng cùng ngưng với dây hụi khui ngày 09/6al/2024 (01). Tuy nhiên tại phiên tòa bà Y cũng thừa nhận anh T đã đóng xong kỳ tháng 02al/2025 nên anh T khai còn thiếu 03 kỳ đã khui chưa số tiền là 06 triệu đồng là có cơ sở. Việc bà Y khai anh T còn thiếu 04 kỳ là không có chứng cứ, chứng minh.
Do vậy chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của dây hui này của bà Y và buộc anh T trả cho bà Y dây hụi này số tiền đã qua 03 kỳ khui chưa đóng số tiền là 06 triệu đồng. Còn lại 01 kỳ không chấp nhận yêu cầu của bà Y.
[2.3]. Dây hụi 02 triệu khui ngày 09/6al/2024 (02) bà Y khai anh T hốt lần thứ 02 cùng kỳ với dây hụi khui ngày 09/6al/2024 ( 01) và cung cấp chứng cứ “ Giấy cho mượn tiền” với số tiền là 20 triệu đồng vào ngày 25/7al/2024 và 02 “ Tờ góp vốn xoay vòng” của 02 dây hụi khui ngày 09/6al/2024 (01) và ngày 09/6al/2024 ( 02). Còn anh T khai dây hụi này anh còn hụi sống, anh chưa hốt.
[2.3.1]. Xét các chứng cứ bà Y cung cấp:
- Về “ Giấy cho mượn tiền”: Theo lời khai hai bên thống nhất sau khi hốt hụi anh T sẽ viết lại biên nhận mượn tiền của các phần hụi chết còn lại tính đến mãn hụi để anh T có trách nhiệm đóng hụi chết đến mãn hụi. Như vậy nếu anh T hốt lần thứ 02 đến mãn hụi sẽ còn lại 15 kỳ hụi chết anh T phải đóng lại, nhưng chứng cứ bà Y cung cấp là “ Giấy cho mượn tiền” với số tiền là 20 triệu đồng vào ngày 25/7al/2024 là không có cơ sở ( Vì nếu anh T hốt lần thứ 02 còn lại phải đóng hụi chết đến mãn hụi là 15 kỳ số tiền 30 triệu đồng mới đúng).
Hơn nữa khi anh T hốt lần thứ 02 của dây hụi khui ngày 09/6al/2024 (01) thì anh T đã viết cho bà “ Giấy cho mượn tiền” với số tiền là 30 triệu đồng vào ngày 19/7/2024, tuy nhiên theo lời bà Y khai do anh T ghi thiếu tiền bà không xem, nhưng bà không có chứng cứ chứng minh.
- Về “ Tờ góp vốn xoay vòng”: Bà Y cung cấp là 02 tờ “Góp vốn xoay vòng” của 02 dây hụi khui ngày 09/6al/2024 ( 01) và ngày 09/6al/2024 (02), theo bà khai do bà tự ghi ngày, tháng, năm để theo dõi hụi viên hốt.
Tuy nhiên theo danh sách của 02 tờ “Góp vốn xoay vòng” của 02 dây hụi khui ngày 09/6al/2024 ( 01) và ngày 09/6al/2024 ( 02) do bà ghi trong đó có 01 tờ bà ghi anh T hốt ngày 9/6/2024 và 01 tờ bà ghi 02 người hốt cùng ngày 9/6/2024 là người tên “ Sang số thứ tự 3” và anh “Tâm 2 Xưa số thứ tự 10”. Như vậy trong 02 dây hụi 02 triệu khui cùng ngày 09/6al/2024 không thể nào có 03 người cùng hốt vào kỳ khui thứ 02 ngày 09/07al/2204 như lời bà Y khai, ngoài ra bà cũng không có chứng cứ chứng minh anh T đã hốt phần dây hụi ngày 09/6al/2024 (02) này. Do vậy không chấp nhận phần yêu cầu này của bà Y yêu cầu anh T trả số tiền hụi chết của dây hụi này.
[2.3.2]. Phần dây hụi 02 triệu khui ngày 09/6al/2024 (02), mặc dù chưa có cở sở xác định anh T đã hốt và không chấp nhận yêu cầu của bà về việc anh T đã hốt. Nhưng do anh T không có tranh chấp, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Nếu các bên có tranh chấp thì được giải quyết bằng vụ án khác.
[2.4]. Về các kỳ hụi chưa tới khui của 02 dây hụi anh T đã hốt của các dây hụi khui ngày 15/7al/2023 và ngày 09/6al/2024 ( 01). Bà Y yêu cầu anh T trả theo các kỳ khui,
Xét các kỳ hụi chưa tới kỳ khui, anh T chưa vi phạm nghĩa vụ và anh T cũng không đồng ý, nên không chấp nhận phần yêu cầu này của bà Y.
[2.5]. Xét chứng cứ, yêu cầu khởi kiện của bà Y chỉ có một phần cơ sở, nên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Y.
- Buộc anh T trả cho bà Y số tiền hụi chết đã qua kỳ khui của 02 dây hụi khui ngày 15/7al/2023 và ngày 09/6al/2024 (01) tổng cộng là 14 triệu đồng (trong đó dây hụi khui ngày 15/7al/2023 là 04 kỳ x 02 triệu đồng/ kỳ là 08 triệu đồng; dây hụi khui ngày 09/6al/2024 (01) là 03 kỳ x 02 triệu đồng/ kỳ là 06 triệu đồng).
- Không chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện còn lại của bà Y.
[3]. Về án phí: Anh T phải chịu án phí phần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Y. Bà Y phải chịu án phí phần không được chấp nhận yêu cầu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuy nhiên bà Y là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 471, Điều 280 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Y;
1.1. Buộc anh Lê Chí T trả cho bà Đỗ Thị Y số tiền 14.000.000 ( Mười bốn triệu) đồng ( trong đó dây hụi khui ngày 15/7al/2023 tính đến tháng 02al/2025 là 04 kỳ hụi chết là 8.000.000 đồng và số tiền của dây hụi khui ngày 09/6al//2024 (1) tính đến tháng 02al/2025 là 04 kỳ hụi chết đã đóng tháng 02al/2025 còn 03 kỳ 6.000.000 đồng).
1.2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Y yêu cầu anh T trả phần tiền hụi chết 2.000.000 đồng phần dây hụi khui ngày 09/6al//2024 (1) và 8.000.000 đồng của phần dây hụi khui ngày 09/6al//2024(2) và các kỳ hụi chết chưa tới kỳ khui.
1.3. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải trả thêm tiền lãi suất chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Anh Lê Chí T chịu 700.000 đồng.
2.2. Miễn tiền án phí cho bà Đỗ Thị Y.
- Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Nhịn |
Bản án số 60/2025/DS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hụi
- Số bản án: 60/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HỤI
