|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2024/HS-ST
Ngày 12 - 12 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Anh Văn.
Ông Đỗ Tiến Hiệt.
- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Dục - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: L2 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1988 tại: huyện Y, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lìa Lao H (đã chết) và bà Tếnh Thị C; bị cáo có vợ và 04 con. Con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2017.
- Tiền án: Không. Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 26/3/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La ra Quyết định số 09/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành cai nghiện bắt buộc 24 tháng. Ngày 24/02/2023 đã chấp hành xong. (Đến thời điểm phạm tội mới chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y từ ngày 12/8/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lìa Lao T, sinh năm 1990. Trú tại: Bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Người bào chữa: Ông Nguyễn Bá L; Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh S. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 19 giờ 00 phút, ngày 12/8/2024, tổ công tác Công an huyện Y và Công an xã C đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại bản Pa Kha 1, xã C, huyện Y thì phát hiện và bắt quả tang Lìa Lao M, sinh năm 1988, trú tại bản Pa Kha 2, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La đang điều khiển xe máy có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ gồm 01 gói nilon màu trắng bên trong có 14 viên nén đồng dạng màu hồng nghi là ma túy do Lìa Lao M đang cầm ở tay trái tự giác giao nộp. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Ngày 13/8/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Sơn La phối hợp với Phòng PC09 Công an tỉnh S đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng vật chứng thu giữ của L2; trích rút mẫu để giám định: Cân tách bì toàn bộ 14 viên nén đồng dạng hình trụ tròn màu hồng có khối lượng 1,36 gam; trích 05 viên nén có khối lượng 0,48 gam làm mẫu giám định kí hiệu M; còn lại 0,88 gam ký hiệu M1 nhập kho vật chứng.
Tại bản Kết luận giám định, số: 1588/KLMT ngày 14/8/2024 của Phòng kĩ thuật hình sự (P) – Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,48 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,36 gam; loại Methamphetamine. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lìa Lao M khai nhận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12/8/2024 Lìa Lao M mang theo số tiền 150.000 đồng một mình điều khiển xe máy BKS: 26K6-5244 từ nhà ở bản P, xã C đi đến bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi M đến cuối bản Pom Khốc, xã C thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông, không quen biết. Qua trao đổi, M hỏi và mua được của người đàn ông đó 14 viên Hồng phiến với giá 150.000 đồng được gói trong túi nilon màu trắng. Có được ma túy, M cầm gói ma túy ở tay trái rồi điều khiển xe máy quay trở về nhà theo đường cũ. Khi đến địa phận bản Pa Kha 1, xã C, Y, S bị tổ công tác Công an huyện Y, phát hiện bắt quả tang thu giữ, gói ma túy và chiếc xe máy có đặc điểm nêu trên.
Đối với chiếc xe máy BKS: 26K6-5244 quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Lìa Lao T, sinh năm 1990, trú tại: Bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Ngày 12/8/2024 M mượn anh T xe máy đi công việc riêng, anh T không biết M sẽ sử dụng xe máy của mình để đi mua ma túy.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKSYC ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Châu để xét xử bị cáo Lìa Lao M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa bị cáo M thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, thống nhất với lời khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố.
Tại phiên toà kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lìa Lao M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 28 đến 32 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, Điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015 đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu cùng vỏ gói ban đầu và 0,88 gam Methamphetamine; Trả lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, màu sơn đen- bạc, vàng, BKS 26K6-5244 cho chủ sở hữu hợp pháp anh Lìa Lao T.
Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo đồng ý với Bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Người bào chữa cho bị cáo ông Nguyễn Bá L – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý – thuộc đoàn luật sư tỉnh Sơn La vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng đã gửi bài phát biểu luận cứ bào chữa cho Hội đồng xét xử nội dung như sau: Luật sư nhất trí với bản cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lìa Lao M về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người đúng tội, đề nghị HĐXX căn cứ vào nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị cáo: do nhu cầu sử dụng cá nhân, bị cáo không được học hành, trình độ hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế. Về mục đích động cơ phạm tội, hành vi trách nhiệm hình sự: do bị cáo không lường trước được hậu quả, trách nhiệm pháp luật, việc mua ma túy để sử dụng là tình cờ, ngẫu nhiên, ngoài mục đích tàng trữ không có mục đích khác. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú tại nơi có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ nhận thức kém, khối lượng ma túy tàng trữ không lớn, sau khi xảy ra sự việc đã nhận thức được hành vi thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có bố là ông Lìa Lao H tham gia kháng chiến chống Mỹ được nhà nước tặng thưởng huân huy chương hạng Nhì, hạng Ba. Đề nghị HĐXX xem xét khách quan, toàn diện nội dung vụ án áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo Lìa Lao M được hưởng mức án từ 18 đến 24 tháng tù, được miễn hình phạt bổ sung, miễn án phí theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX xem xét trả lại chiếc xe mô tô BKS 26K6 – 5244 cho chủ sở hữu hợp pháp anh Lìa Lao T.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh L1 Lao Trồng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin lại tài sản đề nghị được xin lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, màu sơn đen- bạc, vàng, BKS 26K6-5244 do anh không biết việc Lìa Lao M mượn và sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện mua ma túy.
Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lìa Lao T vắng mặt kjhông có lý do nhưng đã có đơn xin lại tài sản, Xét thấy sự vắng mặt của anh T không làm ảnh hưởng hay thay đổi nội dung vụ án. Vì vậy HĐXX vẫn tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 BLTTHS.
[2] Về tình tiết định tội định khung hình phạt:
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 12/08/2024, biên bản niêm phong vật chứng ngày 12/08/2024, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 13/08/2024, Kết luận giám định số 1588/KLMT ngày 14/8/2024, các biên bản ghi lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, biên bản lấy lời khai của người chứng kiến, và đều phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 12/8/2024 Lìa L có hành vi cất giấu trái phép 1,36 gam Methamphetamine mục đích để bản thân sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang tại bản Pa Kha 1, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có mức phạt tù từ 01 đến 05 năm.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu truy tố và Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xét xử bị cáo Lìa Lao M là chính xác, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm mà bị cáo đã thực hiện.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng sức khỏe con người, suy kiệt nòi giống, lây lan đại dịch HIV/AIDS đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác như trộm cắp, cướp của, giết người.. Nên cần xử lý nghiêm bị cáo bằng hình phạt để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho nhu cầu nghiện hút ma túy của mình. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 1,36 gam Heroine, khi xảy ra sự việc bị cáo tự giác giao nộp số ma túy đang tàng trữ trong người cho Cơ quan điều tra, ngoài mục đích tàng trữ để sử dụng bị cáo không có mục đích khác.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo có bố là ông Lìa Lao H được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì và Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015
Bị cáo có không tình tiết tăng nặng. Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự. Ngày 26/3/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La ra Quyết định số 09/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian chấp hành cai nghiện bắt buộc 24 tháng. Ngày 24/02/2023 đã chấp hành xong. Đến thời điểm phạm tội mới chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện ma túy lâu năm, nhân thân xấu, đã 01 lần bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng sau khi cai nghiện quay trở lại địa phương làm ăn, sinh sống không ăn năn hối cải, lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật. Việc bị cáo chưa chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật thể hiện sự ngông cuồng, bất chấp coi thường pháp luật, thiếu sự rèn luyện, tu dưỡng, hối cải của bị cáo.
Do vậy cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để có mức án phù hợp, tương xứng, nhằm nghiêm khắc trừng phạt, cải tạo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị lớn, hoàn cảnh gia đình khó khăn vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với vật chứng liên quan bao gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu cùng vỏ gói ban đầu và 0,88 gam Methamphetamine. Xét thấy đây là những vật không có giá trị sử dụng và vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc xe máy 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, màu sơn đen- bạc, vàng, BKS 26K6-5244, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Lìa Lao T, sinh năm 1990, trú tại: Bản P, xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La. Ngày 12/8/2024 M đến mượn anh T chiếc xe máy nêu trên nói đi công việc riêng, anh T không biết việc M sử dụng xe máy của mình để đi mua ma túy, không liên quan đến vụ án vì vậy cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp anh L1 Lao Trồng theo khoản 2 Điều 47 BLHS.
[7] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên cơ quan CSĐT Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý.
Đối với hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ (Điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm và trong cơ thể có chất ma túy) của Lìa L, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo dưới 45 ngày, cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 BLTTHS 2015.
[11] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Lìa Lao M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lìa Lao M 28 (hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/08/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan và chất ma túy còn lại bao gồm: 01 phong bì niêm phong bên trong bên trong đựng 01 mảnh nilon màu trắng vật chứng ban đầu + 01 phong bì giấy niêm phong vật chứng ban đầu và mẫu M1 = 0,88 gam Methamphetamine;
Trả lại cho anh L1 Lao Trồng 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Taurus, màu sơn đen- bạc, vàng, BKS 26K6-5244, xe cũ đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 13 /BB-CCTHADS ngày 11/12/2024 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lìa Lao M.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 12/12/2024. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Thị Thanh Huyền |
Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 12/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lìa Lao M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
