|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST
Ngày 04-12-2024.
V/v: Ly hôn giữa anh Biên và chị Chinh.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lò Văn Khẹt.
- Bà Quàng Thị Hỏa.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Lường Văn Hoan - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22/11/2024 và ngày 04/12/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn, giữa:
- Nguyên đơn: Anh Tòng Văn B, sinh năm 1996.
- Bị đơn: Chị Vì Thị C1, sinh năm 1977.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C2, xã hội huyện M, tỉnh Sơn La.
Trú tại: Bản P, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lường Ngọc C, Luật sư. Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Trú tại: Bản C, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Trọng D – Giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Có đề nghị xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2024, trong quá trình xét xử nguyên đơn anh Tòng Văn B trình bày:
Anh và chị V Thị Chinh kết hôn trên cơ sở tự nguyện, ngày 29/12/2014 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sơn La. Cuộc sống chung không hạnh phúc, đến năm 2021 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai người bất đồng quan điểm sống. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không khắc phục được. Từ nhiều năm hai người sống không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Anh Tòng Văn B xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn chị Vì Thị C1.
Về con chung: Có một con là Tòng Thị N, sinh ngày 28/11/2014. Anh Tòng Văn B nhất trí để chị Vì Thị C1 nuôi con Tòng Thị N. Còn con Tòng Thị H sinh ngày 31/7/2013 là con nuôi (nhận từ chị gái về nuôi từ bé) anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con Tòng Thị H và không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, riêng: Đều đã phân chia xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Có nợ Ngân hàng C2 huyện M số tiền 50.000.000, đồng. Số nợ trên anh có trách nhiệm trả cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện C2. Và xác nhận chị Vì Thị C1 đã thanh toán cho anh 17.000.000, đồng chêch lệch khoản nợ.
Bị đơn chị Vì Thị C1 trình bày: Chị xác nhận quan hệ hôn nhân giữa anh Tòng Văn B và chị Vì Thị C1. Xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn phù hợp với lời khai của nguyên đơn anh Tòng Văn B. Xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được và chị đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có một con là Tòng Thị N, sinh ngày 28/11/2014. Chị Vì Thị C1 yêu cầu nuôi con Tòng Thị N. Còn con Tòng Thị H sinh ngày 31/7/2013 là con nuôi (nhận từ chị gái về nuôi từ bé) anh Tòng Văn B có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con Tòng Thị H và không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, riêng, nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ngân hàng C2, xã hội huyện M, tỉnh Sơn La trình bày:
Căn cứ sổ vay vốn mã khách hàng 7079880597, ngày 21/3/2019 Ngân hàng cho gia đình anh Tòng Văn B và chị Vì Thị C1 vay theo chương trình hộ nghèo, số tiền gốc vay là 50.000.000, đồng. Nay hai người ly hôn Ngân hàng yêu cầu anh Tòng Văn B là người có trách nhiệm thanh toán số tiền gốc là 50.000.000, đồng và lãi phát sinh.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:
Căn cứ Điều 37; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho Anh Tòng Văn B được ly hôn chị Vì Thị C1. Về con chung: Giao cho chị V Thị Chinh trực tiếp nuôi con Tòng Thị N, sinh ngày 28/11/2014. Anh Tòng Văn B trực tiếp nuôi con Tòng Thị H sinh ngày 31/7/2013. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con là đúng nguyện vọng của các đương sự. Về tài sản chung, riêng: Nguyên đơn đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Anh Tòng Văn B trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C2 số tiền vay gốc là 50.000.000, đồng (năm mươi triệu đồng) và lãi phát sinh. Nguyên đơn Anh Tòng Văn B được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
Việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định.
Về nội dung: Căn cứ Điều 37; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:
Có căn cứ xử cho Anh Tòng Văn B được ly hôn chị Vì Thị C1.
Con chung: Giao cho chị V Thị Chinh trực tiếp nuôi con Tòng Thị N, sinh ngày 28/11/2014. Anh Tòng Văn B trực tiếp nuôi con Tòng Thị H sinh ngày 31/7/2013. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, riêng: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh Tòng Văn B trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C2 số tiền vay gốc là 50.000.000, đồng (năm mươi triệu đồng) và lãi phát sinh.
Anh Tòng Văn B được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà và các quy định của pháp luật. Tòa án phân tích, đánh giá, nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bị đơn chị Vì Thị C1 sau khi được thông báo về việc thụ lý vụ án, đã khai trình bầy nguyện vọng, đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng và đã triệu tập xét xử hợp lệ, có đề nghị được xử vắng mặt tại phiên tòa, theo quy định của khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt chị Vì Thị C1.
Anh Tòng Văn B là dân tộc thiểu số cư trú vùng KT-XH đặc biệt khó khăn thuộc diện trợ giúp có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là căn cứ.
Nguyên đơn anh Tòng Văn B. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C2, xã hội huyện M, tỉnh Sơn La đều có đơn đề nghị xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định của Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Tòng Văn B và chị Vì Thị C1 có đăng ký kết hôn, có tìm hiểu, tự nguyện là đúng pháp luật. Cuộc sống chung hoà thuận thời gian đầu, mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do hai người bất đồng quan điểm sống. Hai người sống ly thân đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau, xét mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được là có căn cứ.
Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng Anh Tòng Văn B và chị Vì Thị C1 đã được gia đình và chính quyền khuyên giải, đã kéo dài, trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay Anh Tòng Văn B yêu cầu được ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận xử cho Anh Tòng Văn B được ly hôn chị Vì Thị C1.
[3] Về con chung: Có hai con là Tòng Thị N, sinh ngày 28/11/2014 và Tòng Thị H sinh ngày 31/7/2013. Căn cứ vào nguyện vọng của con Tòng Thị Ngọc ở với mẹ và Tòng Thị H ở với bố, là đúng nguyện vọng của chị Vì Thị C1 và anh Tòng Văn B, nên cần chấp nhận giao cho chị V Thị Chinh trực tiếp nuôi dưỡng con Tòng Thị N, sinh ngày 28/11/2014. Còn con Tòng Thị H sinh ngày 31/7/2013 là con nuôi (nhận từ chị gái về nuôi từ bé) anh Tòng Văn B có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con Tòng Thị H và không ai phải cấp dưỡng nuôi con, cần chấp nhận, theo quy định của các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về tài sản chung, riêng: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về nợ chung: Khoản nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C2 được xác định là khoản vay nợ về xây dựng gia đình nằm trong chương trình hỗ trợ hộ nghèo. Hiện xác định chị Vì Thị C1 đã thanh toán trả cho anh Tòng Văn B 17.000.000, đồng. Đại diện Ngân hàng có yêu cầu anh Tòng Văn B là người có trách nhiệm trả nợ gốc là 50.000.000, đồng và lãi phát sinh. Theo quy định Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận anh Tòng Văn B trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C2 số tiền vay gốc là 50.000.000, đồng và lãi phát sinh.
[6] Về ý kiến đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Xử cho Anh Tòng Văn B được ly hôn chị Vì Thị C1. Chị Vì Thị C1 trực tiếp nuôi con Tòng Thị N, sinh ngày 28/11/2014. Anh Tòng Văn B trực tiếp nuôi con Tòng Thị H sinh ngày 31/7/2013. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Không giải quyết về tài sản chung, riêng do nguyên đơn không yêu cầu. Anh Tòng Văn B có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C2 số tiền vay gốc là 50.000.000, đồng và lãi phát sinh. Hội đồng xét xử thấy lời đề nghị trên là có căn cứ chấp nhận.
Anh Tòng Văn B thuộc hộ nghèo được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 37; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:
- Xử cho Anh Tòng Văn B được ly hôn chị Vì Thị C1.
- Về con chung: Giao cho chị V Thị Chinh trực tiếp nuôi con Tòng Thị N, sinh ngày 28/11/2014. Anh Tòng Văn B trực tiếp nuôi con Tòng Thị H sinh ngày 31/7/2013. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, riêng: Đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh Tòng Văn B trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C2 số tiền vay gốc là 50.000.000, đồng (năm mươi triệu đồng) và lãi phát sinh, theo sổ vay vốn mã khách hàng 7079880597, ngày 21/3/2019.
- Về án phí: Anh Tòng Văn B được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
Anh Tòng Văn B. Chị Vì Thị C1. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng chính sách, xã hội huyện M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) (đã ký) Nguyễn Minh Tuấn |
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 04/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án TC ly hôn giữa anh Tòng Văn Biên và chị Vì Thị Chinh
