|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
"Bản án số: 12/2024/HS-ST ngày 02/12/2024" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Kiều Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thạch.
- Bà Bùi Thị Ngọc Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quang Bình, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ánh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (điểm cầu trung tâm) và tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi (điểm cầu thành phần) xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/HS-ST, ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2024/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Bùi Ngọc V, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1977 tại tỉnh Quảng Ngãi; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 12/8/2021; nơi cư trú: Tổ G, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: Không; con ông Bùi Ngọc C, sinh năm 1954 và bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1955; có vợ tên Kiều Thị C1 (đã ly hôn), có 02 người con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2008, tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/8/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Cao Văn Đ, sinh năm 1993; cư trú tại: Tổ dân phố D, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lục Đình T1, sinh năm 1992; cư trú tại: Thôn C, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.
- Chị Phạm Thị Quỳnh N, sinh năm 1985; cư trú tại: Tổ dân phố B, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Chị Bùi Thị Thu L, sinh năm 1979h hiện cư trú tại: Thôn M, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 04/8/2024, bị cáo Bùi Ngọc V đi từ phòng trọ của mình thuộc tổ dân phố A, thị trấn C, huyện B dạo chơi trên nhiều tuyến đường ở thị trấn C. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, V ghé vào quán cơm tấm, nước giải khát Út Loan của anh Cao Văn Đ để uống nước mía. Trong quá trình ngồi uống nước mía, bị cáo V phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh bạc, biển số 76C1-38053 dựng bên lề đường trước quán có cắm sẵn chìa khóa, trên xe có 01 thùng nhựa hình hộp chữ nhật loại 45 lít, nhãn hiệu Matsu màu xanh được buộc ở yên sau. Bị cáo V ngồi uống nước mía quan sát xe một lúc nhưng không thấy chủ xe và không ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. Bị cáo đã lén lút đi đến xe, bật chìa khóa khởi động xe, sau đó điều khiển xe tẩu thoát. Khi đi đến xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, bị cáo dừng xe và vứt bỏ thùng nhựa xuống sông rồi tiếp tục di chuyển. Đến sáng ngày 05/8/2024, bị cáo điều khiển xe đến nhà anh Lục Đình T1 ở xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai để
gửi xe. Sau đó, bị cáo đón xe ô tô khách quay lại thị trấn C, huyện B để thu dọn đồ đạc ở phòng trọ rồi đón xe khách về lại huyện Đ, tỉnh Gia Lai lấy xe mô tô đã gửi tại nhà anh T1 trước đó và sử dụng xe này làm phương tiện đi lại. Đến ngày 20/8/2024, V điều khiển xe mô tô đã trộm cắp di chuyển trên địa phận huyện K, tỉnh Đắk Lắk thì bị phát hiện, mời về làm việc. Sau khi tiếp nhận thông tin từ Công an huyện K, Công an huyện B đã phối hợp xác minh, làm việc và Bùi Ngọc V đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 80/KL-HĐĐGTS, ngày 22/8/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện B kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh bạc biển số 76C1-380.53, số máy G3D4E343567, số khung 061-GY327060 mua vào năm 2016, đã qua sử dụng được định giá là 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng); kết luận định giá tài sản số 89/KL-HĐĐGTS ngày 09/10/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện B kết luận giá trị thùng đá giữ nhiệt hình hộp chữ nhật loại 45 lít nhãn hiệu Mastu, có vỏ nhựa màu xanh dương, đã qua sử dụng định giá là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Bản cáo trạng số 156/CT-VKS-BS, ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo V phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Ngọc V từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.
Về dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác về dân sự nên không xem xét, giải quyết;
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter biển kiểm soát 76C1 - 380.53, đã qua sử dụng: Chủ sở hữu hợp pháp là anh Lê Anh T2, ở thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi (em họ của Cao Văn Đ) nhưng anh T2 đã giao quyền quản lý, sử dụng phương tiện cho Cao Văn Đ trước khi xuất khẩu lao động sang Nhật Bản. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện B đã trả xe mô tô cho anh Cao Văn Đ.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu ITEL, màu đen trắng, tình trạng đã qua sử dụng: Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại cho bị cáo, do chị Bùi Thị Thu L, sinh năm 1979; hiện cư trú tại: Thôn M, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, là em ruột của bị cáo V được ủy quyền nhận lại, quản lý tài sản.
- Đối với 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen, phía trước mũ có hình chữ M màu vàng, viền màu xanh; 01 (một) quần vải, dài, màu xanh lá cây, túi quần ở hai bên đùi và túi quần sau có may thêm miếng vải màu da cam; 01 (một) áo thun màu xanh có cổ, trên ngực áo có in nỗi chữ “M” là trang phục mà Bùi Ngọc V mặc lúc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đề nghị tích thụ tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) thùng đá giữ nhiệt hình hộp chữ nhật loại 45 lít nhãn hiệu Mastu, có vỏ nhựa màu xanh dương: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B truy tìm vật chứng nhưng không tìm thấy.
- Đối với đối tượng và hành vi có liên quan: Bị cáo V đã từng làm thuê cho gia đình anh Lục Đình T1 nên có quan hệ quen biết, khi bị cáo đi xe đến gửi thì anh T1 không biết xe này do bị cáo đã trộm cắp tài sản trước đó. Do đó, không có đủ căn cứ để đề nghị xem xét xử lý trách nhiệm về vai trò đồng phạm.
Qua tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo V thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội, không oan và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, chỉ mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên thu thập và người tham gia tố tụng khác cung cấp là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng Hình sự.
[1.2] Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.3] Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng hồ sơ vụ án cũng đã có lời khai của họ, bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì, xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo V khai nhận hành vi của mình đúng như mô tả trong cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo V là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Ngày 04/8/2024, bị cáo V đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiện Yamaha Exiter biển kiểm soát 76C1-280.53 và 01 thùng đá giữ nhiệt của anh Cao Văn Đ, tổng trị giá tài sản mà bị cáo V đã chiếm đoạt được định giá là 22.200.000 đồng (hai mươi hai triệu, hai trăm nghìn đồng) nên hành vi của bị cáo V đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không oan sai đối với bị cáo.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức, điều khiển hành vi, nhận thức việc xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn lén lút chiếm đoạt tài sản của
người khác. Hành vi bị cáo đã thực hiện là cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức hình phạt tương xứng để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[3.1] Tình tiết tăng nặng: Không có.
[3.2] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã hoàn trả lại tài sản là xe mô tô và bồi thường giá trị thùng giữ nhiệt cho bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có cha, mẹ là người có công cách mạng, được hưởng chính sách như thương binh; bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo V được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm nên không xét.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter biển kiểm soát 76C1-380.53; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu ITEL, màu đen trắng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại, chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
[5.2] Đối với 01 mũ lưỡi trai màu đen, phía trước mũ có hình chữ M màu vàng, viền màu xanh; 01 quần vải, dài, màu xanh lá cây, túi quần ở hai bên đùi và túi quần sau có may thêm miếng vải màu da cam; 01 áo thun màu xanh có cổ, trên ngực áo có in nỗi chữ “M” là trang phục mà Bùi Ngọc V mặc lúc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[5.3] Đối với 01 (một) thùng đá giữ nhiệt hình hộp chữ nhật loại 45 lít nhãn hiệu Mastu, có vỏ nhựa màu xanh dương: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B truy tìm vật chứng nhưng không tìm thấy.
[6] Về các vấn đề khác: Khi bị cáo V mang xe mô tô đến gửi, anh Lục Đình T1 không biết xe này do bị cáo đã trộm cắp trước đó nên không đủ căn cứ để xem xét xử lý trách nhiệm về vai trò đồng phạm là có căn cứ.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp hành vi, tính chất phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo Bùi Ngọc V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc V 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 22/8/2024).
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ lưỡi trai màu đen, phía trước mũ có hình chữ M màu vàng, viền màu xanh; 01 quần vải, dài, màu xanh lá cây, túi quần ở hai bên đùi và túi quần sau có may thêm miếng vải màu da cam; 01 áo thun màu xanh có cổ, trên ngực áo có in nỗi chữ “M”. Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Bùi Ngọc V phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đoàn Kiều Trung |
Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 12/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Ngọc Vũ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
