|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2024/HS-ST Ngày 19-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Quang Minh;
Ông Ngô Văn Thế.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLHS-ST, ngày 14 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Sùng A P, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 08/10/1997, tại: huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Xin C, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Sùng A S, sinh năm 1976; mẹ đẻ: Chang Thị L, đã chết; vợ: Lý Thị M, sinh năm 1998; bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh H - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.
- Người làm chứng:
Anh Đèo Văn C1, sinh năm 1974, địa chỉ: Bản H, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do;
Anh Pờ Văn N, sinh năm 1989, địa chỉ: Bản C, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 17/5/2024, Sùng A P đi bộ từ lán ruộng thuộc quyền quản lý hợp pháp của P ở bản X, xã H đến bản S, xã M, huyện P tìm mua Heroine để sử dụng và bán kiếm lời. Tại bản Sàng Cải, P mua được 01 gói Heroine giá 800.000 đồng, của 01 người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch. Mua được H1, P cất giấu trong túi áo ngực rồi đi về lán ruộng. Đến khoảng 19 giờ, ngày 17/5/2024, P về đến lán ruộng thì gặp Đèo Văn C1 và Pờ Văn N. C1 và N hỏi mua Heroine của P. C1 và N mỗi người đưa cho P một tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. P nhận tiền rồi lấy gói Heroine trong túi áo ngực ra, dùng dao lam cắt 02 cục nhỏ H1 cho vào 02 mảnh nilon màu xanh gói lại bán cho C1 và N mỗi người một gói. Mua được H1, C1 hỏi ý kiến P cho C1 sử dụng Heroine tại lán của P và được P đồng ý. Nân không hỏi ý kiến P mà tự ý sử dụng Heroine tại lán của P, P biết nhưng để mặc cho N sử dụng tại lán. C1 và N ngồi trong lán ruộng của P sử dụng hết 02 gói Heroine bằng hình thức hít, Pao ngồi trên giường dùng cân điện tử cân số Heroine còn lại của P. Hồi 20 giờ 00 phút, ngày 17/5/2024, khi C1 và N vừa sử dụng hết số Heroine mua được của Pao thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Vật chứng đã thu giữ gồm: Thu giữ của Sùng A P: 01 gói nilon màu đen, bên trong có chất bột màu trắng; số tiền 200.000 đồng; 01 con dao lam; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 chiếc cân điện tử màu đen. Thu giữ của Đèo Văn C1: 01 chiếc bật lửa ga màu xanh; 01 mảnh giấy bạc. Thu giữ của Pờ Văn N: 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc (là các công cụ C1 và N mang đi từ nhà để sử dụng Heroine). Sùng A P khai nhận số chất bột màu trắng là Heroine của P mua về để bán kiếm lời, số tiền 200.000 đồng là tiền Pao bán trái phép Heroine cho C1 và N mà có. Pờ Văn N, Đèo Văn C1 khai nhận 02 tờ tiền thu giữ của P là tiền mà C1 và N đưa cho P để mua Heroine.
Tại bản Kết luận giám định số: 33/KL-GĐVV, ngày 18/5/2024, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Sùng A P có khối lượng là 4,168 gam. Bản Kết luận giám định số: 583/KL-KTHS, ngày 20/5/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 01 mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma tuý, loại Heroine. Bản Kết luận giám định số: 582/KL-KTHS, ngày 20/5/2024, của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Số tiền 200.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Tại bản Cáo trạng số: 101/CT-VKSPT, ngày 13/10/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Sùng A P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Sùng A P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sùng A P từ 08 (T) năm đến 09 (Chín) năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 256, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sùng A P từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm, 03 (Ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội theo Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 và khoản 3 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng, gồm: 4,023 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 con dao lam; 01 chiếc cân điện tử; 02 chiếc bật lửa ga; 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; các mảnh nilon và vỏ gói niêm phong vật chứng. Đối với 0,145 gam Heroine trích trong số Heroine thu giữ trong vụ án đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định nên không đề cập xử lý. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Tranh luận với đề nghị của người bào chữa về mức hình phạt, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm luận tội.
Bị cáo đã thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không có tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo và phần xử lý vật chứng, án phí. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện về nguyên nhân phạm tội, điều kiện, hoản cảnh, nhân thân của bị cáo; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo ở mức thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy và xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt đối với hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình tham gia tố tụng, người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đều đã có lời khai trong quá trình điều tra, được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng nên Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về chứng cứ, hành vi mà bị cáo Sùng A P đã thực hiện:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của những người làm chứng trong quá trình điều tra, truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và gửi đi giám định, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 19 giờ, ngày 17/5/2024, tại lán ruộng của gia đình, Sùng A P đã 01 lần bán trái phép Heroine cho 02 người là Đèo Văn C1 và Pờ Văn N, lấy số tiền 200.000 đồng. Sau khi nhận Heroine của P, C1 có hỏi xin phép P cho C1 sử dụng Heroine trong lán của P thì được P đồng ý. C1 đã sử dụng Heroine bằng hình thức hít tại lán của P. Nân tự ý lấy Heroine ra sử dụng tại lán nhà P, P nhìn thấy nhưng không nói gì, để mặc cho N sử dụng. Ngoài bán trái phép Heroine cho C1 và L1, P còn cất giấu 4,168 gam Heroine để sử dụng và bán. Vào hồi 20 giờ 00 phút, ngày 17/5/2024, khi C1, N vừa sử dụng Heroine xong và đang ngồi tại lán nhà P thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm rất nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H1 là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn; hành vi mua bán trái phép chất ma túy, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Những tình tiết liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho bị cáo, bị cáo khai không biết rõ nhân thân, lai lịch cụ thể của người này, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có cơ sở điều tra xử lý người bán Heroine cho bị cáo trong vụ án này.
Sau khi mua Heroine, C1 xin sử dụng Heroine tại lán ruộng của nhà P, được P đồng ý, N không hỏi ý kiến P mà tự ý sử dụng trái phép chất ma túy tại lán ruộng thuộc quyền quản lý hợp pháp của P. Do vậy, P chỉ phải chịu trách nhiệm về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự, P không phải chịu tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Đối với Đèo Văn C1 và Pờ Văn N có hành vi mua ma túy của P để sử dụng. C1 và N đã sử dụng hết gói Heroine mua được, đã bị Công an huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C1 và N về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo đúng quy định.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi của bị cáo gây ra cho xã hội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật cho bị cáo, đồng thời để góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Bị cáo phạm hai tội nên Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt của cả hai tội theo Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251, khoản 3 Điều 256 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên cần chấp nhận. Đối với quan điểm của người bào chữa về việc đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là không phù hợp, không đủ sức răn đe đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng: Số tiền 200.000 đồng, là tiền do bị cáo bán trái phép Heroine mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Các vật chứng còn lại, gồm: 4,023 gam Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 01 con dao lam; 01 chiếc cân điện tử; 02 chiếc bật lửa ga; 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; các mảnh nilon và các phong bì niêm phong vật chứng, là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 0,145 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu của bị cáo được gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Sùng A P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật Hình sự.
-
Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sùng A P: 08 (T) năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sùng A P: 02 (Hai) năm, 03 (Ba) tháng tù.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt: 10 (Mười) năm, 03 (Ba) tháng tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày 18/5/2024.
-
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo.
Tịch thu tiêu hủy: 4,023 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 con dao lam; 01 chiếc cân điện tử; 02 mảnh nilon; 02 chiếc bật lửa ga; 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; các phong bì niêm phong vật chứng.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 13 giờ 30 phút, ngày 18/10/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
- Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15, của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (sơ thẩm) về tội mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sơ thẩm) về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BC tàng trữ TPCMT
