Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI SƠN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày 18 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Cầm Ngọc Thương

Các hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Tổ

Ông Nguyễn Đức Việt

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức C. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 27/7/1977 tại huyện C, tỉnh Hải Dương. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hữu T (đã chết) và bà Vũ Thị A, sinh năm 1930; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thu B (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, sinh năm 1997 và 2005.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2024 đến nay. Có mặt.

Bị hại: Bà Đinh Thị Huyền T1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tiểu khu D, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1973. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 6/2021, Nguyễn Đức C kết bạn với Đinh Thị Huyền T1, sinh năm 1984, trú tại tiểu khu D, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La qua mạng xã hội Facebook dưới tên tài khoản là M. Sau đó, C cung cấp số điện thoại đăng ký tài khoản mạng xã hội zalo của mình (số I) cho T1 để liên lạc trao đổi thông tin. Cảnh giới thiệu bản thân đang làm Youtuber và quản lý các trang Fanpage thu được lợi nhuận cao nên T1 nói muốn có một trang fanpage để kiếm thêm thu nhập, C bảo mở giúp T1 fanpage có tên “Thích học văn” với chi phí 1.000.000VNĐ, T1 đồng ý và chuyển 1.000.000VNĐ vào số tài khoản 104868566666 của C mở tại ngân hàng V. Sau khi được C mở trang fanpage, T1 đã đăng một số bài giảng lên đó nhưng không thu được lợi nhuận. Mặc dù vậy, T1 vẫn thường xuyên liên lạc với C qua mạng xã hội zalo và tỏ ý muốn kiếm tiền từ các trang mạng xã hội. Thấy vậy, C nảy sinh ý định lợi dụng sự thiếu hiểu biết về các mạng xã hội và mong muốn kiếm tiền của T1 nhằm chiếm đoạt tài sản. Để thực hiện điều đó, C đưa ra thông tin gian dối là cứ đầu tư 10.000.000VNĐ vào các trang bóng đá thì sẽ được hưởng lợi nhuận 150.000VNĐ/ngày, khi không đầu tư nữa sẽ được lấy lại số tiền gốc đã bỏ ra và rủ T1 đầu tư vào các trang bóng đá cùng với C, T1 đồng ý. Ngày 10/06/2021, T1 chuyển 5.000.000VNĐ đến số tài khoản 7420181666999 của C mở tại ngân hàng Q. Cùng ngày, C đã chuyển vào tài khoản số 41110000567400 của T1 mở tại ngân hàng B1 số tiền 200.000VNĐ và nói là tiền lãi hàng ngày T1 được hưởng nhằm tạo lòng tin với T1. Tiếp đó, C đưa thêm thông tin gian dối là đang mùa bóng đá sẽ dễ kiếm tiền hơn và đề nghị T1 đầu tư tiền để chạy quảng cáo, T1 đồng ý. Trong các ngày từ 14/6/2021 đến 06/8/2021, T1 đã 08 lần chuyển tiền đầu tư cho C vào số tài khoản 7420181666999 của C mở tại ngân hàng Q tổng số tiền 345.000.000VNĐ, cụ thể: ngày 14/6/2021 chuyển số tiền 20.000.000VNĐ, ngày 20/6/2021 chuyển số tiền 30.000.000VNĐ, ngày 25/6/2021 chuyển số tiền 25.000.000VNĐ, ngày 26/6/2021 chuyển số tiền 50.000.000VNĐ, ngày 30/6/2021 chuyển số tiền 100.000.000VNĐ, ngày 03/7/2021 chuyển số tiền 20.000.000VNĐ, ngày 05/7/2021 chuyển số tiền 70.000.000VNĐ, ngày 05/7/2021 chuyển số tiền 30.000.000VNĐ. Trong khoảng thời gian trên, để T1 tin tưởng chuyển tiền, C nhiều lần chuyển lại tiền cho T1 và nói là tiền lãi có được từ các lần đầu tư trước với tổng số tiền 62.200.000VNĐ, cụ thể các lần chuyển tiền như sau: ngày 13/6/2021 chuyển số tiền 3.000.000VNĐ; ngày 18/6/2021 chuyển số tiền 16.000.000VNĐ; ngày 27/6/2021 chuyển số tiền 3.000.000VNĐ, ngày 28/6/2021 chuyển số tiền 1.500.000VNĐ, ngày 02/7/2021 chuyển số tiền 6.000.000VNĐ, ngày 02/7/2021 chuyển số tiền 3.000.000VNĐ, ngày 11/7/2021 chuyển số tiền 5.000.000VNĐ, ngày 13/7/2021 chuyển số tiền 4.000.000VNĐ, ngày 14/7/2021 chuyển số tiền 10.000.000VNĐ, ngày 26/7/2021 chuyển số tiền 3.000.000VNĐ, ngày 29/7/2021 chuyển số tiền 2.000.000VNĐ, ngày 04/8/2021 chuyển số tiền 2.000.000VNĐ. Sau đó, C lấy lý do tiền lãi gộp vào cùng tiền gốc để tăng tiền gốc đầu tư sẽ thu về lợi nhuận cao hơn và hứa hẹn sau 100 ngày sẽ rút tất cả số tiền gốc 350.000.000VNĐ và tiền lãi trả cho T1 để không thực hiện việc trả tiền cho T1. Khi T1 yêu cầu C trả tiền, C nói dối là mở

3

quán tạp hoá cho mẹ nên chưa có tiền để trả cho T1. Ngày 31/7/2021, C nói dối T1 là C về quê ở huyện C, tỉnh Hải Dương thì bị bắt đi cách ly dịch bệnh Covid 19 và bị thu máy tính không chạy quảng cáo được nên nhờ T1 chuyển khoản cho Cảnh 8.000.000VNĐ để nộp phạt, T1 đồng ý chuyển cho Cảnh 5.000.000VNĐ. Đến ngày 05/8/2021, C tiếp tục nói dối về nhà mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mẹ là Vũ Thị A thế chấp tại ngân hàng để vay tiền trả cho T1 và nhờ T1 chuyển khoản cho C vay 30.000.000VNĐ để làm thủ tục vay, T1 tin tưởng chuyển cho Cảnh 10.000.000VNĐ vào ngày 06/8/2021. Thời gian sau đó, T1 nhiều lần gọi điện thoại, nhắn tin cho C đòi lại tiền nhưng C chỉ chuyển khoản trả cho T1 2.000.000VNĐ vào ngày 13/3/2022 thông qua tài khoản V1 số [...] mang tên Nguyễn Đức C và 2.000.000VNĐ vào ngày 06/6/2022 thông qua tài khoản M1 số 8669899999999 mang tên Nguyễn Đức C rồi tắt máy để T1 không liên lạc được với C.

Ngày 23/5/2023, Đinh Thị Huyền T1 làm đơn tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Đức C gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đức C đã thừa nhận hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của T1 365.000.000VNĐ. Số tiền chiếm đoạt C trả cho T1 62.200.000VNĐ, sử dụng 22.000.000VNĐ để mua xe đạp, trả nợ 2.000.000VNĐ cho Nguyễn Thị H (sinh năm 1988, trú tại thôn P, xã H, thị xã M, tỉnh Hưng Yên), số còn lại C đã chi tiêu cá nhân hết.

Bản cáo trạng số 108/CT-VKSMS ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức C về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời bị cáo xin giảm mức hình phạt.

Người bị hại trình bày ý kiến phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C từ 9 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc gia đình bị cáo đã trả cho Đinh Thị Huyền T1 số tiền 400.000.000VNĐ, T1 không đề nghị gì thêm.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật TTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,

4

thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000VNĐ.

Bị cáo Nguyễn Đức C tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện M, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại: Bị hại đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại.

[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận. Trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 8 năm 2021, bị cáo đã nhiều lần đưa ra thông tin gian dối về việc đầu tư vào các trang fanpage trên mạng xã hội facebook sẽ được hưởng lợi nhuận để bị hại Đinh Thị Huyền T1 tin tưởng giao tiền cho bị cáo mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của T1. Tổng số tiền T1 chuyển vào tài khoản cho bị cáo là 365.000.000VNĐ. Từ ngày 13/6/2021 đến 04/8/2021, C nhiều lần chuyển lại tiền lãi cho T1 với tổng số tiền 62.200.000VNĐ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thuẫn.

Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận Nguyễn Đức C phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo tại Bản cáo trạng số: 108/CT-VKSMS ngày 31/10/2024 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, dân sự, nhận thức rõ được việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu rèn luyện, tu dưỡng và tư lợi cá nhân, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo đã xâm phạm

5

đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Khi lượng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 8 năm 2021, bị cáo đã nhiều lần đưa ra thông tin gian dối về việc đầu tư vào các trang fanpage trên mạng xã hội facebook sẽ được hưởng lợi nhuận và chiến đoạt tiền từ bị hại T1. Số tiền mỗi lần bị cáo chiếm đoạt của bị hại đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Ngày 28/5/2024, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, trả cho bị hại 400.000.000VNĐ, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự sẽ được Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo khi xem xét mức hình phạt.

Từ những phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, xét thấy: Cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ biên bản xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M và tại phiên tòa xét thấy: Bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định và bị cáo không có tài sản riêng có giá trị. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Không thu giữ vật chứng.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị hại Đinh Thị Huyền T1 đề nghị bị cáo phải trả cho T1 số tiền 365.000.000VNĐ là tiền T1 vay mượn để chuyển vào tài khoản cho C và số tiền 83.950.000VNĐ là tiền lãi từ khoản vay trên. Ngày 28/5/2024, bị cáo đã tác động gia đình trả cho T1 400.000.000VNĐ, T1 không yêu cầu gì thêm. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại giữ nguyên ý kiến đã nhận đủ số tiền yêu cầu bồi thường, không có yêu cầu gì thêm. Thỏa thuận bồi thường dân sự của bị cáo và bị hại là tự nguyện, cần chấp nhận.

[8] Về các vấn đề có liên quan:

Đối với điện thoại di động và máy tính xách tay Nguyễn Đức C sử dụng để đăng nhập tài khoản Facebook, Z liên lạc, đưa ra thông tin gian dối chiếm đoạt tài sản của Đinh Thị Huyền T1, C đã bán cho một quán kinh doanh điện thoại di động không nhớ tên, địa chỉ cụ thể tại thành phố H, tỉnh Hải Dương từ khoảng tháng 5

6

năm 2023. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ xác minh, truy tìm.

Đối với Nguyễn Thị Á đã đại diện gia đình bị cáo thực hiện việc lập biên bản thỏa thuận và giao nhận tiền bồi thường dân sự cho bị hại Đinh Thị Huyền T1. Chị Nguyễn Thị Á không yêu cầu Tòa án xem xét về phần dân sự giữa chị Á và bị cáo C nên Tòa án không xem xét.

Đối với Nguyễn Thị P (sinh năm 1973, trú tại thôn G, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương) không biết số tiền 22.000.000VNĐ Nguyễn Đức C trả cho P để mua xe đạp là tiền do C lừa đảo chiếm đoạt của Đinh Thị Huyền T1. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không đặt vấn đề xử lý đối với P.

Đối với Nguyễn Thị H (sinh năm 1988, trú tại thôn P, xã H, thị xã M, tỉnh Hưng Yên) không biết số tiền 2.000.000VNĐ Nguyễn Đức C trả nợ cho H là tiền do C lừa đảo chiếm đoạt của Đinh Thị Huyền T1. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không đặt vấn đề xử lý đối với H.

[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 09 (chín) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, giữ (ngày 24/5/2024).

  2. Về bồi thường dân sự: Ghi nhận việc bị cáo và bị hại Đinh Thị Huyền T1 tự nguyện thỏa thuận mức bồi thường dân sự tổng số tiền là 400.000.000VNĐ, bị hại Đinh Thị Huyền T1 đã nhận đủ số tiền trên.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21; điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND huyện Mai Sơn;
  • - Công an huyện Mai Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cầm Ngọc Thương

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức C 174
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger