|
TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 12/2024/HS-ST Ngày 06-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Thanh Bắc.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tình; Bà Mai Thị Hoài Nam.
- - Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 23/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn C; giới tính: Nam; sinh ngày 12/02/1995; Nơi sinh: Huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Lò Văn N, sinh năm 1977 và con bà Hà Thị X, sinh năm 1977; Gia đình có 04 anh, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: Không có; Tiền án: 02 tiền án, cụ thể:
- + Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt Lò Văn C 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, khoản tiền bồi thường 520.000 đồng; 02 khoản tiền hoàn trả gồm 5.800.000 đồng và 1.400.000 đồng; 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Đến ngày 25/4/2021 Lò Văn C chấp hành xong án phạt tù, thi hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, còn khoản tiền hoàn trả và bồi thường thì chưa thi hành xong. Hiện Lò Văn C chưa được xóa án tích.
- + Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2021/HSST ngày 22/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt Lò Văn C 01 năm 8 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Đến ngày 20/5/2023 Lò Văn C chấp hành xong án phạt tù và án phí, hiện chưa được xóa án tích.
Bị can bị bắt quả tang, tạm giữ từ hồi 20 giờ 45 phút ngày 14/6/2024, đến ngày 23/6/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Quốc H, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Chị Lò Thị L, sinh năm 1981; nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 14/6/2024, Lò Văn C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 23D1-147.64 (C mượn của anh Trần Quốc H, sinh năm 1984, trú tại thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai) chở cô ruột C là Lò Thị L, sinh năm 1981 trú cùng bản đến bản P, xã N, huyện T để dự đám tang nhà thông gia với L. Khi đến bản P, xã N, huyện T, C đứng ở ngoài đợi Lả vào đám tang. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày trong khi đang đợi L, C nảy sinh ý định đi tìm mua Heroin để sử dụng. Sau đó C đi bộ quanh bản Phiêng Giằng thì gặp và hỏi mua được 02 gói Heroin, mỗi gói được gói bằng 01 mảnh nilon màu hồng, cả 02 gói được gói chung bằng 01 mảnh nilon màu trắng của một người đàn ông tự giới thiệu tên là “M” không rõ nhân thân, lai lịch với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được 02 gói Heroin, C cất giấu trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ quay về đám tang. Sau đó C điều khiển xe mô tô chở L đi về, nhưng C không nói cho L biết việc C mua và đang cất giấu Heroin trên người. Đến 17 giờ 10 phút cùng ngày khi C và L về đến bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu thì Lò Văn C bị công an xã T, huyện T bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an thu giữ tại tay trái của Lò Văn C 02 gói Heroin, mỗi gói được gói bằng 01 mảnh nilon màu hồng, cả 02 gói được gói chung bằng 01 mảnh nilon màu trắng có tổng khối lượng 0,2 gam, mục đích để C sử dụng và thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, biển kiểm soát: 23D1-147.64, màu đen, vàng, số khung: RLCS5C6K0DY128574, số máy: 5C6K128550, xe đã qua sử dụng.
Ngày 14/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã tiến hành thành lập Hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 49/KL-TCGĐ ngày 14/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lò Văn C có khối lượng là 0,2 gam.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã lấy toàn bộ 0,2 gam chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lò Văn C theo C khai nhận là H1 gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 778/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 02 (hai) Mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu Mẫu 01, Mẫu 02) gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H2), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất ma túy.
Bản Cáo trạng số: 81/CT-VKS-TU ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản Kết luận điều tra số: 73/KLĐT ngày 10/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Lai Châu và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Lò Văn C là người đã có 02 tiền án đều chưa được xóa án tích và đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm”. Hồi 17 giờ 10 phút, ngày 17/6/2024, tại bản N, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn C đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,2 gam Heroin, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã T, huyện T phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Lò Văn C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Bản thân bị cáo là người có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo làm lao động tự do, nguồn thu nhập thấp nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Về vật chứng còn lại của vụ án: 02 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng, Hội đồng xét xử xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, biển kiểm soát: 23D1-147.64, màu đen, vàng, số khung: RLCS5C6K0DY128574, số máy: 5C6K128550, xe đã qua sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của anh Trần Quốc H, sinh năm 1984; trú tại: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Anh H cho đã cho bị cáo Lò Văn C mượn chiếc xe này để đi về thăm nhà, việc C dùng xe chở chị Lò Thị L đi và sau đó mua Heroin mang về thì anh H không biết nên cần trả lại cho anh Trần Quốc H theo theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc 0,2 gam Heroin, Lò Văn C khai do C mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tự giới thiệu tên “Minh” tại bản Phiêng Giằng, xã N, huyện T. Quá trình điều tra, không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Lò Thị L là người được Lò Văn C điều khiển xe đi đến đám tang, quá trình điều tra xác định việc C mua và tàng trữ Heroin thì Lò Thị L không biết. Vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý Lò Thị Lả L là đúng quy định.
Đối với anh Trần Quốc H là chủ sở hữu đối với chiếc xe mô tô do Lò Văn C điều khiển đi mua Heroin sau đó bị công an thu giữ. Quá trình điều tra xác định anh H cho C mượn xe để về thăm nhà, việc C dùng xe đi mua và tàng trữ H1 thì anh H không biết, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xem xét xử lý đối với anh H là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024.
- Về vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng.
- - Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Sirius, biển kiểm soát: 23D1-147.64, màu đen, vàng, số khung: RLCS5C6K0DY128574, số máy: 5C6K128550, xe đã qua sử dụng cho anh Trần Quốc H, sinh năm 1984; trú tại: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 35 phút ngày 28/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tân Uyên)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thanh Bắc |
Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 12/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 05 năm 06 tháng tù
