Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 12/2024/DS-ST
Ngày: 10 -7 - 2024
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Quân; ông Nguyễn Tất Thể

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Hiền- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 81/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 11/2024/QĐST-DS, ngày 28 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 18/2024/QĐST-DS, ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn I (thôn Đ), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Bùi Hoàng Linh C; ông Phan Văn C1 và bà Trần Thị H – Công ty L3; địa chỉ: Số B đường V, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Bà Bùi Hoàng Linh C có mặt; ông Phan Văn C1 và bà Trần Thị H vắng mặt.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc H1, sinh năm 1962 và bà Cao Thị B, sinh năm 1971; cùng địa chỉ: Thôn I (thôn Đ), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  • + Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn I (thôn Đ), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

Đại diện theo uỷ quyền của anh Nguyễn Văn T: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn I (thôn Đ), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

  • + Anh Nguyễn Thành C2, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn I (thôn Đ), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1935; địa chỉ: Thôn I (thôn Đ), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
  • + Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;

Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện H: Ông Phạm Quốc T1, chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H, Hà Tĩnh. Vắng mặt

  • + Ủy ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;

Đại diện theo uỷ quyền của Ủy ban nhân dân xã Q: Ông Lê Chí T2 – Công chức địa chính. Có mặt

  • + Văn phòng Đ chi nhánh H8 - Đ.

Người đại diện theo uỷ quyền của Văn phòng Đ chi nhánh H8 - Đ: Ông Phan Thanh H2 – Cán bộ chi nhánh Văn phòng Đ – Đ. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị A trình bày như sau:

Năm 1989 bà A và chồng là ông Nguyễn Văn L1 (tên gọi khác Nguyễn L1) được Ủy ban nhân dân xã S (nay là xã Q) và Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cấp cho phần diện tích đất 1264m², trong đó có 300m² đất ở và 964m² đất vườn, với lệ phí là 64.000đ, phần diện tích đất được cấp có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất bà H5 Nghệ dài khoảng 30m; phía Tây giáp đất canh tác dài khoảng 30m; phía Nam giáp đường lối thôn H dài khoảng 42m; phía Bắc giáp đất canh tác dài khoảng 30m. Do điều kiện tại thời điểm năm 1989 khó khăn, các con còn nhỏ nên chưa có điều kiện ra ở trên diện tích đất vườn được cấp. Năm 1995 ông Nguyễn Quốc H1 (em trai ông L1) lấy vợ nên xin vợ chồng ông L1, bà A cho mượn để ở tạm trên phần diện tích đất mà ông L1, bà A đã được cấp. Đến năm 1998 diện tích đất trên đã được Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 751248, ngày 21/11/1998, mang tên Nguyễn L1; địa chỉ thửa đất ở tại xóm A, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (nay là thôn H, xã Q). Năm 2010 vợ chồng bà A, ông L1 đã thế chấp mảnh đất này tại Ngân hàng N2 Chi nhánh huyện H8 để vay số tiền 100.000.000 đồng.

Năm 2014 vợ chồng ông H1 cùng vợ là bà Cao Thị B đến năn nỉ vợ chồng bà A, ông L1 về việc bán cho ông H1, bà B 06m để làm nhà bếp nên bà A, ông L1 đã bán cho ông H1 06m (mét chạy) trong tổng số 1.264m² với giá 30.000.000đ. Phần đất ông H1, bà B đã xây nhà và các công trình trên đất và phần đất còn lại là thuộc quyền sử dụng của ông L1, bà A, vì ông L1, bà A chưa bán cũng như chưa cho ai hết. Hiện nay, ông L1 đã chết (chết ngày 17/10/2021) các con của bà A đã lớn, đã có gia đình nên cần đất để ở riêng, bà A đã nhiều lần đến yêu cầu ông H1, bà B tả lại mặt bằng để bà A lấy đất cho con ra ở riêng, nhưng ông H1, bà B không nhất trí, có lời lẽ thách đố và xúc phạm đến bà A. Ông H1, bà B cho rằng toàn bộ diện tích đất đó là của gia đình ông H1, bà B, tuy nhiên ông H1, bà B lại không xuất trình được giấy tờ, tài liệu gì để chứng minh. Mặt khác nếu đó là đất của mình thì việc gì ông H1, bà B phải bỏ ra số tiền 30.000.000 đồng để mua 06m đất của bà A, ông L1.

Bà A cho rằng toàn bộ phần diện tích đất 1.264m² là thuộc quyền sử dụng đất của gia đình bà, sự việc đã được chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không thành, do vậy bà A khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Quốc H1, bà Cao Thị B phải trả lại phần diện tích đất mà ông H1, bà B đang chiếm dụng (trừ phần diện tích mà bà A, ông L1 đã bán vào năm 2014).

- Bị đơn ông Nguyễn Quốc H1 và bà Cao Thị B trình bày:

Phần diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc là do mẹ của ông H1 là bà Nguyễn Thị L mua của chính quyền năm 1989, để cho ông Nguyễn Văn L1 (anh trai ông H1) ra ở riêng, nhưng ông L1 không ra ở, nên bà L đã cho con là Nguyễn Thị H3 ở, chị H3 ở từ năm 1991 đến năm 1995 thì ông H1 bắt đầu ở trên diện tích này từ đó cho đến nay. Vào năm 1995 đến ở tại mảnh đất thì ông H1, bà B1 ở trên ngôi nhà gỗ 02 gian và các công trình phụ trợ, đến năm 2011 thì ông H1, bà B bắt đầu làm nhà kiên cố để ở, năm 2014 khi ông H1, bà B tiến hành làm nhà ngang thì mới phát sinh tranh chấp. Quá trình sử dụng đất ông H1, bà B thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế đối với nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay ông H1, bà B không có bất cứ giấy tờ gì liên quan để chứng minh phần diện tích đã ở từ trước đến nay thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình. Ông H1, bà B thừa nhận có việc ông H1, bà B đưa cho bà A, ông L1 số tiền 30.000.000 đồng, nhưng đó không phải là số tiền mua đất, mà là khi tiến hành làm nhà ngang thì mẹ của ông H1 đã nói với ông H1 đưa cho ông L1, bà A số tiền này coi như là của hồi môn, nên ông H1 mới đưa.

Do vậy, ông H1, bà B không chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị A.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị O, anh Nguyễn Thành C2, anh Nguyễn Văn T (con của bà A và ông L1) đều thống nhất như quan điểm của bà Nguyễn Thị A và đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho gia đình.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà có ý kiến trình bày: Đất mà Nguyễn Quốc H1 đang ở trước đây bà mua của UBND xã sau đó bà cho con gái là Nguyễn Thị H3 ở. Sau đó ông H1 lấy vợ thì bà cho ông H1 và vợ ở. Quá trình mua và cho thì bà không có giấy tờ gì. Hiện nay các con bà đang tranh chấp bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

- Tại Văn bản số 05/UBND ngày 17/02/2023 của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND xã Q, quá trình giải quyết vụ án và tại tại phiên toà đại diện UBND xã Q trình bày:

- Căn cứ vào hồ sơ lưu ở UBND xã Q (sổ 05) và thực tế sử dụng thửa đất ở, đất trồng cây lâu năm của bà Nguyễn Thị A (vợ ông L1), xét thấy giấy chứng nhận QSD đất cấp cho ông Nguyễn L1 (chồng bà A) số R 751248, địa chỉ thửa đất xóm A, xã S là ở tại rú C, thôn I, xã S cũ (nay là thôn Đ, xã Q), ở từ năm 1982 đến nay, do thửa đất chưa được đo đạc bản đồ giải thửa 299 nên giấy chứng nhận QSD đất cấp cho ông L1 không ghi số thửa, số tờ bản đồ, tương tự một số hộ ở cùng thôn (xóm A, thôn I, xã X cũ) cơ bản đều được cấp giấy chứng nhận QSD đất cùng thời điểm nhưng không ghi số thửa, số tờ bản đồ, do chưa đo đạc bản đồ giải thửa 299 (ví dụ hộ ông Phan T3, liền kề vườn bà A, ông L1, năm 2007 đã chuyển nhượng cho bà A, ông L2). Còn nếu xác định giấy chứng nhận QSD đất cấp cho ông Nguyễn L1 (chồng bà A) số R 751248 tại vị trí đất đang tranh chấp với ông Nguyễn Văn H4 (thôn Q) là không có cơ sở, vì thửa đất ông H4 đang sử dụng là ở thôn Q (xóm A, thôn H cũ), các hộ ở liền kề đất ông H4 đang ở tại thôn Q như hộ bà Phan Thị T4, hộ ông Nguyễn N1 (nay là bà Nguyễn Thị H5, Nguyễn thị H6) đều được cấp giấy chứng nhận QSD đất với diện tích là 1000m² (300m² đất ở, 700m² đất vườn, tờ bản đồ số 1), trong khi đó cấp cho ông L1 ở xóm A (thôn I cũ) là 1264m² (300m² đất ở, 964m² đất vườn), không ghi số thửa, số tờ bản đồ, xét thấy không cùng địa chỉ thửa đất cũng như diện tích cấp giấy cho các hộ ở trong 1 vùng đất không có sự tương đồng tại thời điểm cấp giấy.

- Vị trí thửa đất: Quá trình kiểm tra, xác minh thực địa thửa đất tại xóm A, xã S (nay thôn I, xã Q), hộ gia đình bà Nguyễn Thị A (vợ ông Nguyễn L1) sử dụng 03 thửa đất có vị trí liền kề nhau cụ thể 01 thửa là của hộ gia đình ông sử dụng vào mục đích đất ở, đất vườn ổn định từ năm 1982 đến nay, 01 thửa đất do hộ gia đình nhận chuyển nhượng của ông Phan T3 vào năm 2007 đã được cấp GCNQSD đất số AH 813587 và 01 thửa đất nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Đình H7 năm 1994 nhưng chưa được cấp GGCQSD đất; ngoài 3 thửa đất trên thì hộ gia đình không có thửa đất ở, đất vườn nào khác. Thửa đất được cấp giấy chứng nhận QSD đất số R 751248 có vị trí như sau:

  • + Phía Đông: Giáp thửa đất bà Nguyễn Thị A (nhận chuyển nhượng của ông Phan T3 năm 2007) và đất nhà nước quản lý;
  • + Phía Tây: Giáp khe suối (khe Phố) bám đường giao thông;
  • + Phía Nam: Giáp đường giao thông;
  • + Phía Bắc: Giáp đất lâm nghiệp (rú Chò Vọc), xen kẻ nghĩa trang sẵn có;

Và Ủy ban nhân dân xã Q đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

- Tại Văn bản số 226/UBND - TNMT ngày 21/02/2023 của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND huyện H, quá trình giải quyết vụ án đã trình bày:

- Qua kiểm tra hồ sơ cấp GCNQSD đất gồm Giấy CNQSD đất mang số phát hành R 751248 cấp ngày 21/11/1998 và sổ cấp giấy 05 thì phần diện tích đất ở 300m² và đất vườn 964 m² của hộ gia đình ông Nguyễn L1 không ghi số thửa, số tờ bản đồ nhưng đều thể hiện địa chỉ thửa đất tại xóm A, xã S (nay thôn I, xã Q), huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Vị trí thửa đất được xác định tại tờ bản đồ giải thửa số 01, nhưng chưa được đo vẽ trên bản đồ giải thửa.

Quá trình kiểm tra, xác minh thực địa thửa đất tại xóm A, xã S (nay thôn I, xã Q): Hộ gia đình ông Nguyễn L1 sử dụng 03 thửa đất có vị trí liền kề nhau cụ thể 01 thửa là của hộ gia đình ông sử dụng vào mục đích đất ở, đất vườn ổn định từ năm 1982 đến nay; 01 thửa đất do hộ gia đình nhận chuyển nhượng của ông Phan T3 vào năm 2007 đã được cấp GCNQSD đất số AH 813587 và 01 thửa đất nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Đình H7 năm 1994 nhưng chưa được cấp GGCQSD đất; ngoài 03 thửa đất trên thì hộ gia đình không có thửa đất ở, đất vườn nào khác.

- Từ những nội dung nêu trên và theo báo cáo của UBND xã Q xác định phần diện tích đất ở, đất vườn cấp cho ông Nguyễn L1 theo GCNQSD đất số R751248 ngày 21/11/1998 có vị trí tại xóm A (thôn I), xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh với ranh giới, tứ cận như sau:

  • + Phía Đông giáp: đất ông L1 (nhận chuyển nhượng đất ông Phan T3
  • + Đất UBND xã quản lý)
  • + Phía Tây giáp: đường giao thông
  • + Phía Bắc giáp: đất nghĩa trang, nghĩa địa
  • +Phía Nam giáp: đường giao thông.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất chi nhánh H8 - Đ: Trong quá trình giải quyết vụ án có ý kiến đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

- Tại Bản án số 03/2023/DS - ST ngày 30/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh xử:

Căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; Điều 158; khoản 1 Điều 165; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 92; 163; 164; 166;169; 385; 494; khoản 1 Điều 499 của Bộ luật Dân sự. Khoản 1 Điều 203; Điều 166; 170; 188 Luật Đất đai;

Khoản 3 Điều 26; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị A.

Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị A kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án.

Tại bản án số 36/2023/DS-PT ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, xử:

Căn cứ: khoản 3 Điều 308, khoản 2 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên xử: Hủy Bản án sơ thẩm số 03/2023/DS - ST ngày 30/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà để Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Quá trình giải quyết lại vụ án các bên đương sự đề nghị sử dụng tài liệu chứng cứ và kết quả xem xét thẩm định, định giá tài sản của Toà án nhân dân Huyện Hương Sơn để giải quyết vụ án và các bên đương sự không đề nghị Toà án tiến hành xem xét thẩm định, định giá lại tài sản tranh chấp.

Tại phiên toà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đã phân tích các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án và khẳng định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, vì vậy để nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc vợ chồng ông H4 và bà B trả lại phần phần diện tích đất 1.264m² trong đó (trừ phần diện tích mà bà A, ông L1 đã bán vào năm 2014).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phát biểu về việc chấp hành của thẩm phán của toạ, Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà và đương sự đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 166, Điều 494 Bộ luật dân sự năm 2015; 203; các Điều 98, 100, 166, 167, 170, 179, 188 Luật đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 26; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. tuyên xử:

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị A.

Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị A thì phần diện tích đất đang tranh chấp có thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông bà A và ông Nguyễn Văn L1 cho bị đơn ông Nguyễn Quốc H1, bà Cao Thị B mượn từ năm 1995 nhưng đến nay không trả, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu đòi lại. Do đó quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, đòi lại đất cho mượn” quy định khoản 3, 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại bản án dân sự phúc thẩm, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã huỷ bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Hương Sơn để Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, quy định tại khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc vắng mặt của một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên đây là phiên tòa mở lần thứ ba và có người vắng mặt đã có văn bản uỷ quyền do vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu đòi lại đất cho mượn: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại phần diện tích đất của nguyên đơn đã được cấp từ năm 1989, đến năm 1995 nguyên đơn đã cho bị đơn mượn (trừ phần diện tích mà bà A, ông L1 đã bán vào năm 2014). Hội đồng xét xử xét thấy:

Về việc cho mượn đất: Nguyên đơn khẳng định cho bị đơn mượn đất, nhưng không có văn bản để chứng minh, cũng như không có người làm chứng về việc này vì nguyên đơn cho rằng việc cho mượn chỉ thỏa thuận bằng miệng giữa hai bên. Trong khi bị đơn lại phủ nhận việc mượn đất của nguyên đơn khi cho rằng phần diện tích đất này là của bà Nguyễn Thị L đã cho bị đơn sử dụng. Nguyên đơn cho rằng phần diện tích đất này từ năm 1989 nguyên đơn đã được UBND xã S và UBND huyện H cấp có thu lệ phí với số tiền 64.000 đồng. Tuy nhiên, phía nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh. Mặt khác, theo tài liệu của Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp cho Tòa án, hồ sơ cấp đất của ông Nguyễn L1 vào năm 1998, cũng không có tài liệu nào thể hiện năm 1989 ông L1 đã được cấp phần diện tích đất 1.264m².

Về quá trình sử dụng thực tế của bị đơn: Bị đơn sử dụng phần diện tích đất đang tranh chấp từ năm 1995, trong quá trình đó thì bị đơn đã tác nghiệp, xây dựng nhà ở kiên cố trên phần diện tích đất này và nguyên đơn có biết bị đơn xây dựng các công trình này, nhưng phía nguyên đơn không có tranh chấp, hay yêu cầu phía bị đơn dừng tác nghiệp trong quá trình bị đơn xây dựng nhà ở kiên cố. Điều đó, chứng tỏ về mặt ý chí chủ quan của nguyên đơn không thể hiện đúng bản chất của người chủ đất khi cho người khác mượn đất, vì trên thực tế nếu khi phát hiện bên mượn đất xây dựng công trình kiên cố, thì bên cho mượn sẽ không đồng ý.

[2.2] Về việc nguyên đơn cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 751248, ngày 21/11/1998 do UBND huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cấp cho ông Nguyễn L1 (tên gọi khác Nguyễn Văn L1) với diện tích 1.264m², là cấp cho ông L1 đối với phần diện tích hiện nay đang tranh chấp. Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.2.1] Về nguồn gốc: Như phân tích ở trên thì không có căn cứ để khẳng định phần diện tích đất 1.264m² có trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số R 751248, ngày 21/11/1998 mang tên ông Nguyễn L1 có nguồn gốc từ phần diện tích đất mà ông L1 đã được cấp đất từ năm 1989.

[2.2.2] Về vị trí thửa đất đã cấp cho ông Nguyễn L1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 751248, ngày 21/11/1998: Trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông L1 không thể hiện phần đất có diện tích 1.264m² (đất ở 300m² và đất vườn 964m²) thuộc thửa đất và tờ bản đồ số mấy, mà chỉ thể hiện vị trí thửa đất thuộc địa giới hành chính xóm A, xã S. Theo tài liệu do Chi nhánh Văn phòng Đ - Đ cung cấp cho Tòa án liên quan đến quá trình cấp đất cho ông L1 vào năm 1998, không có sơ đồ vị trí thửa đất, biên bản giao đất thực địa, trích lục thửa đất. Như vậy, căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như các tài liệu kèm theo liên quan đến quá trình cấp đất không thể xác định vị trí thửa đất cấp cho ông L1 có vị trí như thế nào trên thực tế, mà chỉ có một thông tin duy nhất là phần diện tích 1.264m² nằm trong địa giới hành chính xóm A, xã S (cũ). Ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ án Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp hồ sơ thửa đất của hộ ở liền kề đất ông H1 đang ở tại thôn Q như hộ ông Nguyễn N1 (nay là bà Nguyễn Thị H5, Nguyễn thị H6) thể hiện vị trí đất là ở xóm A.

[2.2.3] Về quá trình sử dụng đất của nguyên đơn: Trong biên bản lấy lời khai cũng như tại phiên tòa thì nguyên đơn khẳng định là từ năm 1989 cho đến nay phía nguyên đơn chưa có khi nào tác nghiệp, sử dụng và sinh sống trên phần diện tích đất hiện nay đang tranh chấp và nguyên đơn cũng chưa từng thực hiện bất cứ một nghĩa vụ gì về thuế hay các nghĩa vụ khác với Nhà nước đối với phần diện tích đất đang tranh chấp.

[2.2.4] Về diện tích có trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 751248, ngày 21/11/1998 mang tên ông Nguyễn L1 với diện tích thực tế qua thẩm định:

Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 751248, ngày 21/11/1998 thì phần diện tích cấp cho ông Nguyễn L1 là 1.264m², nhưng qua xem xét thẩm định tại chỗ thì phần diện tích thực tế hiện nay có tổng diện tích là 1.879,2m². Như vậy, giữa diện tích mà nguyên đơn cho rằng mình đã được cấp với diện tích thực tế theo thẩm định hoàn toàn không có sự tương đồng nhau về diện tích, mà có sự chênh lệch lên tới 615,2m².

[2.2.5] Về các nội dung khác theo quan điểm của nguyên đơn đối với phần diện tích đất đang tranh chấp:

- Về việc nguyên đơn chuyển nhượng cho bị đơn phần diện tích đất 06m với giá 30.000.000 đồng: Trong đơn khởi kiện cũng như trong biên bản lấy lời khai và trình bày tại phiên tòa nguyên đơn cho rằng vào năm 2014, phía nguyên đơn đã chuyển nhượng cho bị đơn 01 phần diện tích chiều rộng 06m (nằm trong tổng diện tích 1.264m²), với giá là 30.000.000 đồng, nên khẳng định phần đất hiện đang tranh chấp phải thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn thì bị đơn mới đồng ý về việc trả tiền để nhận chuyển nhượng. Tuy nhiên, nguyên đơn không đưa ra được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh việc chuyển nhượng, chính quyền địa phương cũng không được phía nguyên đơn hay bị đơn khai báo về việc chuyển nhượng này và trên thực tế thì đến thời điểm này bị đơn cũng chưa được cơ quan nào cấp hay xác thực về việc nhận chuyển nhượng đất từ phía nguyên đơn. Bị đơn thừa nhận năm 2014, có đưa cho nguyên đơn số tiền 30.000.000 đồng, nhưng đây là số tiền do bà Nguyễn Thị L (mẹ bị đơn) nói đưa cho anh Nguyễn Văn L1 (anh trai bị đơn) coi như là tiền hồi môn vì bị đơn đã được mẹ cho sử dụng đất, số tiền này hoàn toàn không liên quan đến việc chuyển nhượng đất, vì bị đơn không nhận chuyển nhượng từ phía nguyên đơn bất cứ một phần diện tích nào.

- Về việc vay vốn tại Ngân hàng: Nguyên đơn cho rằng nguyên đơn đã thế chấp phần diện tích đất hiện đang tranh chấp để vay vốn tại Ngân hàng N2, Chi nhánh huyện H8, việc Ngân hàng đã đồng ý cho nguyên đơn thế chấp phần diện tích đất để vay vốn, điều đó chứng tỏ phần diện tích đất phải thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn. Tuy nhiên, theo tài liệu của phía Ngân hàng cung cấp, cũng như quan điểm trình bày của Ngân hàng trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng thừa nhận có cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị A vay vốn, nhưng cho vay không có đảm bảo bằng tài sản vay (vay tín chấp) theo Nghị định 55/2015-CP ngày 09/6/2015 và Nghị định số 116/2018/NĐ - CP của Chính phủ. Do vậy, hoàn toàn không có việc phần diện tích đất đang tranh chấp đã được phía Ngân hàng đồng ý cho nguyên đơn dùng để thế chấp khi vay vốn.

Từ những phân tích, đánh giá các quan điểm, tài liệu do các bên đương sự cung cấp, Tòa án thu thập tại, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để khẳng định:

- Không có căn cứ xác định vào năm 1995 gia đình nguyên đơn bà Nguyễn Thị A đã cho gia đình ông Nguyễn Quốc H1, bà Cao Thị B mượn phần diện tích hiện nay đang tranh chấp.

- Giấy chứng nhận đất số R 751248, ngày 21/11/1998 của UBND huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cấp cho ông Nguyễn L1 (Nguyễn Văn L1), không phải cấp đối với phần diện tích ở vị trí mà hiện nay các bên đang tranh chấp.

Do vậy, xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.4] Xét quan điểm, ý kiến của bị đơn:

Bị đơn cho rằng phần diện tích đất đang tranh chấp có nguồn gốc là đất do bà Nguyễn Thị L (mẹ của ông H1 và ông L1) mua từ năm 1989 cho ông L1 ra ở riêng nhưng ông L1 không ở, sau đó bà L cho con gái là Nguyễn Thị H3 ở từ năm 1991, đến năm 1995 thì vợ chồng bị đơn ông H1, bà B được mẹ cho đến ở và sinh sống trên mảnh đất cho đến nay. Tuy nhiên, xét thấy ngoài lời trình bày thì phía bị đơn cũng không xuất trình được bất cứ một chứng cứ, tài liệu nào để chứng minh và bản thân bị đơn cũng thừa nhận mặc dù ở từ năm 1995 trên mảnh đất hiện nay đang tranh chấp, nhưng bị đơn cũng không có tài liệu nào để chứng minh quyền sử dụng hợp pháp của mình. Đại diện UBND xã Q và UBND huyện H tại phiên tòa cũng khẳng định mặc dù bị đơn ông Nguyễn Quốc H1, bà Cao Thị B đã làm nhà ở và sinh sống trên phần diện tích đất đang tranh chấp từ năm 1995 cho đến nay, nhưng ông H1, bà B chưa được cấp bất cứ giấy tờ gì liên quan đến quyền sử dụng đất.

Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để xem xét, khẳng định phần diện tích đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Quốc H1, bà Cao Thị B.

[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định và định giá hết 5.215.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận, nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định và định giá theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn đã nộp đủ nên không phải nộp thêm.

[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sơ thẩm. Tuy nhiên, do nguyên đơn là người cao tuổi nên miễn toàn bộ án phí theo quy định pháp luật

[5] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 166, Điều 494 Bộ luật dân sự năm 2015; 203; các Điều 98, 100, 166, 167, 170, 179, 188 Luật đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 26; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị A.
  2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Buộc nguyên đơn phải chịu 5.215.000 đồng (năm triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Nguyên đơn đã nộp đủ tiền tạm ứng tại Tòa án nên không phải nộp thêm.
  3. Về án phí: Nguyên đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên được miễn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/DS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 12/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Năm 1989 bà An và chồng là ông Nguyễn Văn Luân (tên gọi khác Nguyễn Luân) được Ủy ban nhân dân xã Sơn Diệm (nay là xã Quang Diệm) và Ủy ban nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh cấp cho phần diện tích đất 1264m2, trong đó có 300m2 đất ở và 964m2 đất vườn, với lệ phí là 64.000đ, phần diện tích đất được cấp có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất bà Hiền Nghệ dài khoảng 30m; phía Tây giáp đất canh tác dài khoảng 30m; phía Nam giáp đường lối thôn 8 dài khoảng 42m; phía Bắc giáp đất canh tác dài khoảng 30m. Do điều kiện tại thời điểm năm 1989 khó khăn, các con còn nhỏ nên chưa có điều kiện ra ở trên diện tích đất vườn được cấp. Năm 1995 ông Nguyễn Quốc Hương (em trai ông Luân) lấy vợ nên xin vợ chồng ông Luân, bà An cho mượn để ở tạm trên phần diện tích đất mà ông Luân, bà An đã được cấp.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger