Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ

TỈNH LÀO CAI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14/6/2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đình Tiến

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Xuân
  2. Bà Vũ Thị Thoa

Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.

Kiểm sát viên: Ông Nguyễn Hoàng Dương - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

Ngày 14/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/6/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Ly Thị N - sinh năm: 1995

Nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai – vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Sùng Seo CH - sinh năm: 1993;

Nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai – vắng mặt (đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 15/3/2024 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Ly Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Sùng Seo CH chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2013 đến ngày 19/6/2014 đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc được 06 năm thì phát sinh mẫu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong làm ăn phát triển kinh tế và xây dựng hạnh phúc gia đình, từ đó vợ chồng thường xuyên đánh, cãi, chửi nhau. Từ năm 2019 chị về ở với bố mẹ đẻ từ đó vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không thành. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Sùng Seo CH để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 04 con chung là cháu Sùng Seo S, sinh ngày 16/6/2014, cháu Sùng Seo V, sinh ngày 18/8/2016, cháu Sùng Seo Q, sinh ngày 01/5/2018 và cháu Sùng Minh H, sinh ngày 05/9/2019 hiện các cháu mạnh khỏe và phát triển bình thường do anh CH đang trực tiếp nuôi dưỡng. Sau ly hôn chị có nguyện vọng để anh CH tiếp tục nuôi dưỡng tất cả 04 cháu đến tuổi trưởng thành và chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi mỗi cháu 1.000.000đ/ tháng đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Chị không đề nghị Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Sùng Seo CH: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh CH không hợp tác với Tòa án, không cung cấp chứng cứ, không làm bản tự khai và vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa.

Ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành quy định của pháp luật, bị đơn không tuân thủ luật định của pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56,81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử cho chị Ly Thị N được ly hôn anh Sùng Seo CH; Giao cháu Sùng Seo S, cháu Sùng Seo V, cháu Sùng Seo Q và cháu Sùng Minh H cho anh Sùng Seo CH trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Ly Thị N phải cấp dưỡng cho 04 cháu mỗi cháu 1.000.000 đ/tháng đến khi các cháu đủ 18 tuổi; án phí và quyền kháng cáo quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Chị Ly Thị N làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh Sùng Seo CH và giải quyết trách nhiệm nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; anh CH cư trú tại huyện Bắc Hà, vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không hợp tác với Tòa án, không làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, không tham gia phiên tòa. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt vì thế Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ly Thị N và anh Sùng Seo CH chung sống như vợ chồng từ năm 2013 đến năm 2014 đăng ký kết hôn theo quy định tại xã L, huyện Bắc Hà do đó đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Sau kết hôn vợ chồng hạnh phúc được một thời gian sau đó thường xuyên đánh, cãi, chửi nhau và sống ly thân từ cuối năm 2019 từ đó không ai quan tâm đến nhau, chính quyền địa phương cũng như người thân trong gia đình anh CH cũng xác nhận tình trạng mâu thuẫn vợ chồng chị N anh CH phù hợp với lời khai của chị N. Xét thấy mâu thẫn giữa chị N và anh CH đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cần cho chị Ly Thị N được ly hôn anh Sùng Seo CH là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung đều dưới 18 tuổi. Quá trình giải quyết vụ án anh CH không hợp tác với Tòa án nên không thể hiện được nguyện vọng của mình về nuôi con sau ly hôn. Tuy nhiên các cháu đang được anh CH trực tiếp nuôi dưỡng, các cháu mạnh khỏe phát triển bình thường và đang theo học các trường học công lập, quá trình giải quyết vụ án cháu S và cháu V đều có nguyện vọng được ở với bố sau ly hôn. Đối với chị N sau khi sinh cháu Sùng Minh H được một thời gian ngắn thì bỏ nhà đi đến nay không chăm sóc các cháu, chị cũng có nguyện vọng để anh CH nuôi dưỡng cả 04 cháu đến tuổi trưởng thành và cấp dưỡng cả 04 cháu với mức 1.000.000đ/cháu/tháng đến khi các cháu đủ 18 tuổi, vì vậy cần giao cho anh CH trực tiếp nuôi dưỡng cả 04 cháu là phù hợp.

[5]. Về án phí: Chị Ly Thị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 56; khoản 1,2 Điều 81; khoản 1,3 Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, các điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ly Thị N được ly hôn anh Sùng Seo CH, hôn nhân chấm dứt từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao các cháu Sùng Seo S, sinh ngày 16/6/2014, cháu Sùng Seo V, sinh ngày 18/8/2016, cháu Sùng Seo Q, sinh ngày 01/5/2018 và cháu Sùng Minh H, sinh ngày 05/9/2019 cho anh Sùng Seo CH trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Ly Thị N có trách nhiệm cấp dưỡng cho mỗi cháu 1.000.000đ/tháng (Một triệu đồng) đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn chị Ly Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 của bộ luật dân sự.

3. Về án phí: Chị Ly Thị N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn và 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung, tổng cộng là 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001342 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, Chị N còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh (1);
  • - VKSND tỉnh+ huyện (2);
  • - THADS huyện (1);
  • - UBND xã L (1);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn gia đình nên chị Ly Thị Nống làm đơn xin ly hôn anh Sùng Seo Chấu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger