|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2024/HS-ST Ngày 23 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Hữu Tình
Các Hội thẩm nhân dân: bà Đinh Thị Hương và bà Bùi Thị Kim Nhung
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: ông Trần Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Tất T (tên gọi khác: không), sinh ngày 22/12/1984, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1951, con bà Hoàng Thị D, sinh năm 1952; vợ: Hoàng Thị Kim A, sinh năm 1992; có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016; tiền án: không; Tiền sư: có 01 tiền sự, ngày 13/12/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 16 (mười sáu) tháng, ngày 07/02/2023 chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Hiện bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, từ ngày 18/01/2024 cho đến nay; theo lệnh trích xuất, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Huỳnh Xuân T1, sinh năm 1993
Địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 20 phút, ngày 18/01/2024, tại tuyến đường Q thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện T, Tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an xã Đ, tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, đã phát hiện Nguyễn Tất T trú tại thôn P, xã Đ, huyện T điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, màu sơn đen – đỏ, biển kiểm soát 61P1 – 7611 (T mượn của anh Huỳnh Xuân T1 trú cùng thôn) đang lưu thông theo hướng B - Đ, có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã đón dừng để kiểm tra, phát hiện tại túi áo khoác phía trước bên trái của T đang mặc có 01 gói nilon trong suốt, bên trong có chứa 02 viên nén hình tròn, màu hồng dạng thuốc tân dược. Quá trình làm việc T khai nhận số viên nén nói trên là ma túy loại hồng phiến, T mua về nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật nói trên.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Tất T, quá trình khám xét không phát hiện ma túy và không thu giữ gì thêm.
Tại bản Kết luận giám định số 131/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 02 (hai) viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược thu giữ của Nguyễn Tất T gửi trưng cầu giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,192g (không phẩy một trăm chín mươi hai gam).
Số thứ tự 232, Danh mục II, Nghị định số 73/2022/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của chính phủ.
Vật chứng và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ:
- 02 (hai) viên nén hình tròn, dạng thuốc tân dược, màu hồng được đựng trong một túi nilon trong suốt, được niêm phong trong một phong bì thư dán kín các mép dán, có chữ ký của người tham gia niêm phong và dấu đỏ của Công an xã T. Ký hiệu: Mẫu A.
- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu T – Long, màu vàng, số IMEI 1: 355230215022454, số IMEI 2: 355230215022462, gắn thẻ sim số 0927223435, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Tất T.
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, màu sơn Đen Đỏ, số máy: JC43E5035063, số khung: RLHJC4328AY030933, gắn biểm kiểm soát: 61P1 – 7611, xã đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Tất T.
Xử lý vật chứng: Ngày 29/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp anh Huỳnh Xuân T1 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, màu sơn đen – đỏ, biểm kiểm soát: 61P1 – 7611 do không liên quan đến vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKSTH-HS ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình đã truy tố Nguyễn Tất T về tội "tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Nguyễn Tất T 13 đến 16 tháng tù. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư dán kín, ghi trên nội dung “131/KL – KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong phong bì thư chứa: Vỏ bao gói. Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho Nguyễn Tất T 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu T – Long, màu vàng, số IMEI 1: 355230215022454, số IMEI 2: 355230215022462, gắn thẻ sim số 0927223435, điện thoại đã qua sử dụng. Buộc bị cáo Nguyễn Tất T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Mặc dù nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng Nguyễn Tất T vẫn mua ma túy về cất dấu để sử dụng. Số ma tuý Nguyễn Tất T tàng trữ là loại Methamphetamine có khối lượng 0,192g (không phẩy một trăm chín mươi hai gam).
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Tất T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập và được thẩm tra tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, khối lượng chất ma tuý, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Nguyễn Tất T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Nguyễn Tất T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại chất ma tuý, nên cần được xử lý nghiêm. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đang có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự quyết định đối với bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội đồng thời đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần xem xét khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.
[4] Về xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì thư dán kín, ghi trên nội dung “131/KL – KTHS”, bên trong phong bì thư chứa: Vỏ bao gói. Đây là loại chất nhà nước cấm lưu hành, vì vậy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu T – Long, màu vàng, số IMEI 1: 355230215022454, số IMEI 2: 355230215022462, gắn thẻ sim số 0927223435, thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Đối với 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, màu sơn đen – đỏ, biểm kiểm soát: 61P1 – 7611 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Huỳnh Xuân T1, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại T1 là đúng quy định của pháp luật.
[5] Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Tất T khai đã mua của người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực cầu K, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện T không xác định được tên, tuổi và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tất T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tất T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tất T 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (18/01/2024).
Tiếp tục tạm giam bị cáo với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, để đảm bảo cho việc thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư dán kín, ghi trên nội dung “131/KL – KTHS”, bên trong phong bì thư chứa: Vỏ bao gói.
Trả lại cho Nguyễn Tất T 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu T – Long, màu vàng, số IMEI 1: 355230215022454, số IMEI 2: 355230215022462, gắn thẻ sim số 0927223435, điện thoại đã qua sử dụng.
Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa có đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra công an huyện T và Chi cục Thi hành án án dân sự huyện T.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tất T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/4/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Hữu Tình |
Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 12/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án hình sự Nguyễn Tất Th
