|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2024/HS-ST
Ngày: 22 - 4 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Doãn Xuân.
Ông Đào Xuân Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoan – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Vi Văn T. Sinh ngày 23/02/1989 tại huyện C, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản X, xã Đ, huyện C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn T1, sinh năm 1956 và bà Kha Thị M, sinh năm 1957; Vợ họ và tên: Lê Thị B và có 02 con lớn nhất sinh năm 2008 nhỏ nhất sinh năm 2015;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2021 Tòa án nhân dân huyện Con Cuông xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 tháng về tội “Đánh bạc".
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 26/12/2023 thì được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Vi Văn L. Sinh năm 1984. Nơi cư trú: Bản T, xã Đ, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Vi Văn P. Sinh năm 1963. Nơi cư trú: Bản Hồng Thắng, xã Đ, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Bà Vi Thị S. Sinh năm 1964. Nơi cư trú: Bản Hồng Thắng, xã Đ, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Thế K. Trợ giúp viên – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 9 năm 2019 âm lịch (tức tháng 10 năm 2019 dương lịch) Vi Văn L do thiếu tiền làm nhà nên đã đến gặp Vi Văn T để hỏi vay số tiền 50.000.000 đ (Năm mươi triệu đồng), Vi Văn T đồng ý cho Vi Văn L vay số tiền trên với lãi suất 5.000.000 đ (Năm triệu đồng)/01 tháng. Vi Văn T hẹn anh Vi Văn L sau hai ngày thì gặp tại nhà ông Vi Văn P, sinh năm 1963 trú tại bản Hồng Thắng, xã Đ, huyện C để làm thủ tục cho vay tiền. Tại nhà ông Vi Văn P thì T yêu cầu anh L viết giấy vay tiền, sau khi viết giấy vay tiền xong T đưa tiền cho anh L với số tiền 50.000.000 đ (Năm mươi triệu đồng). Từ tháng 11 năm 2019 đến tháng 11 năm 2020, anh Vi Văn L đã trả tiền lãi cho Vi Văn T với số tiền 65.000.000 đ (sáu mươi lăm triệu đồng) của 13 tháng, cụ thể các lần trả như sau:
- Tháng 11 năm 2019, Vi Văn L trả tiền lãi cho Vi Văn T 5.000.000 đồng.
- Tháng 12 năm 2019 do anh Vi Văn L không trả được tiền lãi nên Vi Văn T yêu cầu anh L viết giấy vay tiền vào ngày 29/12/2019 với số tiền vay là 55.000.000 đồng (gồm tiền gốc 50.000.000 đồng và tiền lãi của tháng 12 là 5.000.000 đồng).
- Tháng 01 năm 2020, anh L trả cho T số tiền 10.000.000 đồng (gồm tiền lãi tháng 12/2019 và tiền lãi tháng 01/2020).
- Tháng 4 năm 2020, anh L trả cho T 20.000.000 đồng (trong đó 15.000.000 đồng là tiền lãi của tháng 02, 03, 04 năm 2020 và 5.000.000 đồng tiền gốc), anh L viết giấy vay tiền ngày 03/03/2020 âm lịch còn nợ T số tiền 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng).
- Các tháng 5, 6, 7, 8, 9,10 năm 2020 anh L trả cho T mỗi tháng 5.000.000 đồng tiền lãi, với tổng số tiền là 30.000.000 (ba mươi triệu đồng).
Đến tháng 11 năm 2020 do anh L không trả được tiền lãi nên T yêu cầu anh L viết giấy vay tiền vào ngày 15/11/2020 với số tiền nợ là 50.000.000 đồng (gồm tiền gốc 45.000.000 đồng cộng với 5.000.000 đồng tiền lãi của tháng 11 năm 2020).
Từ tháng 12 năm 2020 đến tháng 02 năm 2021 anh L không có tiền trả cho T nên ngày 09/02/2021 nên T yêu cầu anh L viết giấy vay tiền với số tiền 65.000.000 đồng (sáu mươi lăm triệu đồng), trong đó: 50.000.000 đồng tiền gốc và 15.000.000 đồng tiền lãi của tháng 12 năm 2020 và tháng 01, 02 năm 2021. Thấy không thể trả hết nợ cho T được với mức lãi suất L đã thỏa thuận với T nên đến ngày 23/12/2023, anh Vi Văn L đã làm đơn trình báo cơ quan Công an. Vi Văn T nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên đã đến đầu thú tại Cơ quan điều tra Công an huyện C.
Ngày 23/12/2023 cơ quan cảnh sát điều tra tiền hành khám xét nơi ở của Vi Văn T. Quá trình khám xét thu giữ trong tủ đồ của gia đình Vi Văn T có 03 (ba) tờ giấy kẻ ngang có nội dung vay tiền giữa anh Vi Văn L với Vi Văn T.
Quá trình điều tra, xác định việc Vi Văn T đã lợi dụng nhu cầu tài chính của Vi Văn L nên Vi Văn T đã cho anh Vi Văn L vay số tiền là 50.000.000 đ (năm mươi triệu đồng), mức lãi suất cho vay từ 120% đến 133,33%/năm – đã vượt quá 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 (20%/năm). Số tiền lãi Vi Văn T đã thu được là 65.000.000 đồng. Trong đó khoản vay 50.000.000 đồng, tiền lãi đã trả 30.000.000 đồng/06 tháng, tương ứng lãi suất 120%/năm (gấp 06 lần so với Bộ luật dân sự quy định); từ tháng 3 năm 2020 anh L đã thanh toán 5.000.000 đồng tiền gốc, còn 45.000.000 đồng tiền gốc, tiền lãi đã trả 35.000.000 đồng/07 tháng, tương ứng lãi suất 133,33%/năm (gấp 6,66 lần so với Bộ luật dân sự quy định). Như vậy, Vi Văn T cho anh Vi Văn L vay số tiền 50.000.000 đồng trong 13 tháng thu lợi bất chính số tiền là: (65.000.000 đồng – 10.250.000 đồng = 54.750.000 đồng.
Cáo trạng số 11/CT-VKS-CC ngày 23/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông truy tố bị cáo Vi Văn T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Xử phạt bị cáo Vi Văn T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra công an huyện C, tỉnh Nghệ An thu giữ của Vi Văn T gồm: 03 (ba) tờ giấy kẻ ngang có nội dung vay tiền giữa anh Vi Văn L với Vi Văn T, số tài liệu trên được đưa vào hồ sơ vụ án.
- Truy thu tại anh Vi Văn L số tiền gốc 45.000.000 đồng và nộp ngân sách Nhà nước.
- Truy thu bị cáo Vi Văn T số tiền gốc 5.000.000 đồng và nộp ngân sách Nhà nước.
- Truy thu bị cáo Vi Văn T số tiền 10.250.000 đồng và nộp ngân sách Nhà nước.
- Buộc bị cáo Vi Văn T trả lại cho anh Vi Văn L số tiền 54.750.000 đồng.
- Đề nghị miễn khấu trừ thu nhập và miễn án phí cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Yêu cầu bị cáo trả lại số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo ra đầu thú, đề nghị áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất của khung hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, đồng thời miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với nội dung bản cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 01 năm 2021, Vi Văn T đã có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với anh Vi Văn L với tổng số tiền cho vay là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và thu lợi bất chính số tiền là 54.750.000 đồng (Năm mươi tư triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).
Với hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, tín dụng. Làm mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm cho các gia đình người vay tiền lâm vào cảnh khó khăn, túng quẫn về kinh tế. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật, đã từng bị kết nhưng vì hám lợi, coi thường pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là không cần thiết mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục trong quá trình chấp hành án thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, bị cáo thuộc gia đình hộ cận nghèo và không có thu nhập ổn định nên xét thấy cần miễn khấu trừ thu nhập và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: 03 (ba) tờ giấy kẻ ngang có nội dung vay tiền giữa anh Vi Văn L với Vi Văn T Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C thu giữ của bị cáo là vật chứng của vụ cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ.
- Đối với số tiền gốc 50.000.000 đồng bị cáo Vi Văn T cho Vi Văn L vay. Quá trình điều tra, anh Vi Văn L đã trả cho bị cáo T 5.000.000 đồng. Bị cáo và anh Vi Văn L chưa giao nộp cho cơ quan Nhà nước nên cần truy thu tại anh Vi Văn L 45.000.000 đồng và tại bị cáo Vi Văn T 5.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
- Số tiền lãi hợp pháp là 10.250.000 đồng mà bị cáo Vi Văn T được hưởng, bị cáo T chưa giao nộp. Xét thấy đây là số tiền phát sinh từ hành vi phạm tội mà có cần truy thu tại bị cáo Vi Văn T và nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với khoản tiền thu lợi bất chính 54.750.000 đồng. Xét thấy đây là khoản tiền lãi mà người phạm tội thu lợi bất chính của người vay và người vay không sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp nên cần buộc bị cáo Vi Văn T trả lại cho người vay là anh Vi Văn L.
[5] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, đã có đơn xin miễn tiền án phí nên xét thấy cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vi Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; nhưng được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 26/12/2023 (cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày ngày cải tạo không giam giữ). Giao bị cáo Vi Văn T cho UBND xã Đ, huyện C, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án. Giải quyết việc vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Nghị quyết 01/2021/NQHĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
- Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 03 (ba) tờ giấy kẻ ngang thu giữ của bị cáo Vi Văn T.
- Truy thu tại bị cáo Vi Văn T số tiền lãi hợp pháp thu lợi là 10.250.000 đồng và 5.000.000 đồng tiền gốc là phương tiện phạm tội. Tổng là 15.250.000 đ (Mười lăm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- Truy thu tại anh Vi Văn L để nộp ngân sách Nhà nước số tiền 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
- Buộc bị cáo Vi Văn T trả lại cho anh Vi Văn L số tiền 54.750.000 đ (Năm mươi tư triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vi Văn T.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Hải |
Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 12/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi Văn Thảo - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
