Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠ HUOAI

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17-4-2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Anh Tuấn
Ông Hoàng Lê Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 35/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 03 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Huyền T, sinh năm 1986; nơi cư trú: CH510, CT4-3, tổ dân phố D, khu đô thị M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: Ông Đoàn Công N, sinh năm 1986; HKTT: CH510, CT4-3, tổ dân phố D, khu đô thị M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Tổ dân phố A, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì:

- Về hôn nhân: Bà Trần Huyền T (bà T) và ông Đoàn Công N (ông N) tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau, được sự nhất trí của hai bên gia đình bà T ông N tổ chức đám cưới và tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ngày 20/11/2011. Thời gian ban đầu chung

sống hạnh phúc đến thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do hai bên không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Ông N lô đề và có quan hệ với nhiều người phụ nữ khác. Ông N đã bỏ nhà đi từ năm 2019 cho đến nay và không thăm nom, chăm sóc các con chung. Đến nay mâu thuẫn giữa bà T và ông N không hoà giải được, mục đích hôn nhân không còn vì vậy bà T làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho bà T ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà T xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Khánh L (Đoàn Trang U), sinh ngày 21/8/2012 và cháu Trần Gia K (Đoàn Công B), sinh ngày 21/6/2018. Hai con chung có hai tên khác nhau do cải chính hộ tịch. Sau khi ly hôn bà T đề nghị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung cho đến khi các con đủ tuổi thành niên. Yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi hai con chung là 5.000.000 đồng/ tháng cho đến khi các con chung đủ tuổi thành niên.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án cháu Trần Khánh L (Đoàn Trang U) có nguyện vọng mong muốn được ở với mẹ là bà T.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đoàn Công N có ý kiến như sau: Ông N và bà Trần Huyền T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ngày 20/11/2011. Vợ chồng sống chung một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, hai bên đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, tình cảm cũng không còn nữa, nay bà T đề nghị ly hôn thì ông N cũng đồng ý ly hôn. Đối với con chung ông N cũng đồng ý giao hai cháu Trần Khánh L (Đoàn Trang U), sinh ngày 21/8/2012 và cháu Trần Gia K (Đoàn Công B), sinh ngày 21/6/2018 cho bà T là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, ông N sẽ cấp dưỡng nuôi hai con chung là 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con chung đủ tuổi thành niên. Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, về nợ chung không có.

Tòa án đã tiến hành hòa giải giữa các bên nhưng hoà giải không thành, mặt khác do nguyên đơn ở xa nên có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, do đó vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án:

Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T, cho bà T và ông N được ly hôn. Về con chung: Đề nghị chấp nhận sự thoả thuận của bà T và ông N, giao hai cháu Trần Khánh L (Đoàn Trang U), sinh ngày 21/8/2012 và cháu Trần Gia K (Đoàn Công B), sinh ngày 21/6/2018 cho bà T là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, ông N sẽ cấp dưỡng nuôi hai con chung là 5.000.000 đồng/ tháng cho đến khi các con chung đủ tuổi thành niên. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ các ý kiến của các bên đương sự đã có trong hồ sơ vụ án, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà.

[1] Về thủ tục tố tụng; về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Bà Trần Huyền T và ông Đoàn Công N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ngày 20/11/2011, việc đăng ký kết hôn là đúng pháp luật. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà T, ông N được xác lập là hợp pháp. Quá trình chung sống do phát sinh mâu thuẫn bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông N. Quá trình tố tụng xác minh ông N hiện đang sinh sống tại tổ dân phố A, T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ tranh chấp là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng dân sự.

Bà T, ông N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa và bà T, ông N có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N, bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T thì thấy rằng:

Bà T và ông N chung sống, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông N hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn bà

T ông N chung sống hạnh phúc đến sau này thì phát sinh mâu thuẫn do không có tiếng nói chung, ông N đã bỏ nhà đi từ năm 2019 cho đến nay và không thăm nom, chăm sóc các con chung. Quá trình giải quyết vụ án, các bên đều thừa nhận hai bên đã mâu thuẫn lâu, hiện nay cũng đã sống ly thân không ai còn quan tâm đến ai, các bên đều thống nhất thuận tình ly hôn. Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà T và ông N là thật sự trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông N theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Theo tài liệu, chứng cứ các bên cung cấp cho Toà án thể hiện cháu Trần Khánh L (Đoàn Trang U), sinh ngày 21/8/2012 và cháu Trần Gia K (Đoàn Công B), sinh ngày 21/6/2018 có họ tên người mẹ Trần Huyền T, họ tên người cha Đoàn Công N. Căn cứ khoản 1 Điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình thì xác định cháu Trần Khánh L (Đoàn Trang U), sinh ngày 21/8/2012 và cháu Trần Gia K (Đoàn Công B), sinh ngày 21/6/2018 là con chung của bà T và ông N.

Xét yêu cầu nuôi con của bà T thì thấy rằng:

Về điều kiện chăm sóc con: Xét thấy, các con chung đang được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định, ông N cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T, giao các con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ tuổi thành niên. Đồng thời, theo bản tự khai ngày 15/3/2024 cháu Trần Khánh L (Đoàn Trang U) có nguyện vọng được sống cùng bà T trong trường hợp bà T và ông N ly hôn; cháu Trần Gia K (Đoàn Công B) tuổi còn nhỏ, hiện nay đang ở với bà T. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho các con chung, giúp các con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu Trần Khánh L (Đoàn Trang U) và cháu Trần Gia K (Đoàn Công B) cho bà T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Công nhận sự thoả thuận của các bên như sau: Ông N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung là 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con chung đủ tuổi thành niên là phù hợp.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T, ông N xác định không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là phù hợp.

[2.5] Về án phí: Bà T khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định. Ông N phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[2.6] Đánh giá, xét quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Huyền T đối với ông Đoàn Công N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Huyền T được ly hôn ông Đoàn Công N. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 59 quyển số 01 ngày 20/11/2011 của Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Giao hai cháu Trần Khánh L (Đoàn Trang U), sinh ngày 21/8/2012 và cháu Trần Gia K (Đoàn Công B), sinh ngày 21/6/2018 cho bà Trần Huyền T là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, ông Đoàn Công N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung là 5.000.000 đồng/ tháng cho đến khi các con chung đủ tuổi thành niên. Thời hạn cấp dưỡng nuôi con kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

“Ông Đoàn Công N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con nhưng lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ; người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng nuôi con có thể được thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào trình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Khoản tiền cấp dưỡng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

  1. Về án phí: Bà Trần Huyền T phải chịu nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007415 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng. Bà Trần Huyền T đã nộp đủ án phí.

Ông Đoàn Công N phải chịu nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

  1. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao hoặc niêm yết bản án, bà T, ông N có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án và tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND huyện Đạ Huoai (03);
  • - Chi cục THADS huyện Đạ Huoai (02);
  • - UBND thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá (01);
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân;
  • - Các đương sự (02);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Án văn (03);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Huyền T- Đoàn CÔng N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger